Home Tạp ghi - Linh tinh Tạp ghi Kỉ niệm 30 năm ở Úc

Tìm thông tin

Gắn bài

Khách ghé thăm

Hiện có 54 khách trực tuyến

Lượt đọc (từ 16/05/10)

: 8518201

flex



Theme by:





Kindly supported by:
Michael Hung Productions




Kỉ niệm 30 năm ở Úc In Email
Thứ năm, 26 Tháng 1 2012 07:03
http://mydailyclarity.com/wp-content/uploads/2010/01/au-flag.pngHôm nay (26/1/2012) là ngày Quốc Khánh của Úc. Nhưng hôm nay còn là ngày kỉ niệm tôi đến Úc đúng 30 năm về trước. Cứ mỗi lần đến ngày này là tôi nhớ chuyện xưa, chuyện những ngày đầu tiên tôi đặt chân đến đất nước này … 

 

 

Hôm đó là ngày 26/1/1982. Ở Sydney, nhiệt độ lên đến 42 độ C. Úc đang vào mùa hè. Mới ra khỏi phi trường và qua hải quan, tôi đã thấy choáng với cái nóng. Phải nói là nóng hừng hực. Nhìn thấy người ta mặc quần short nhiều hơn là quần tây như mình. Đứng xếp hàng một hồi thì được nhân viên di trú “lùa” lên một cái xe bus (lúc đó là rất lớn với tôi). Nhóm chúng tôi chắc cũng độ 20 hay 30 người gì đó, chẳng ai biết mình đi đâu, nhưng chỉ biết là từ này mình hưởng tự do sau những ngày tháng cực khổ và đắng cay ở Thái Lan. Xe chạy bon bon trên đường, chẳng thấy thành phố hay nhà cao tầng đâu cả, mà chỉ toàn là nhà cửa bằng gạch đỏ. Nhà nào cũng có vẻ rộng rãi, tươm tất, và hầu như tất cả đều có sân cỏ phía trước. Tôi còn nhớ xe chạy dọc theo một con lộ rất đẹp, hai bên là cây cối um tùm, xanh tươi, sạch sẽ. Sau này tôi mới biết đó là con lộ Henry Lawson Drive (tên của một nhà thơ nổi tiếng người Úc). Sau độ 30 phút thì đến một khu nhà rất rộng tên là Cabramatta Hostel. Lúc đó, tôi còn chưa biết hostel là gì, vì hồi nào đến đó tôi chỉ nghe đến hotel, chứ có biết hostel là gì đâu. 

Cabramatta hostel nằm trên một cái đồi thuộc vùng Cabramatta, nơi mà sau này là “thủ đô” của người Việt ở Sydney. Hostel này có chừng 10 dãy nhà hai tầng. Mỗi dãy nhà có chừng 20 căn nhà. Người tị nạn và di dân khắp nơi trên thế giới được qui tụ ở đây một thời gian để học tiếng Anh và văn hoá Úc trước khi ra ngoài ổn định cuộc sống. Ngoài người Việt, Khmer, Lào ra, còn có người Nga, Ba Lan, Tiệp, Hungary, Hồng Kông, Trung Quốc, v.v. Nhưng có lẽ đông nhất vẫn là người Việt. Tôi ở hostel này được 3 tháng và sau đó ra ngoài mướn nhà, xin việc, và … “chiến đấu” để tồn tại trên đất Úc.

Ngày đầu tiên, tôi được cho 30 đôla Úc. Đó không phải là tiền của Chính phủ, mà tiền của Hội từ thiện St Vincent de Paul. Ngoài ra, tôi còn cho một cái phiếu để lãnh quần áo. Tôi đến Úc với 0 cent trong túi và đúng 2 bộ đồ. Cầm cái phiếu đi lãnh đồ, tôi tưởng là đồ mới, nhưng không phải. Đó là cái shop của Hội St Vincent de Paul, chuyên bán đồ cũ cho người nghèo (loại quần áo mà VN ta quen gọi là SIDA). Nói đồ cũ nhưng còn mới và đẹp với tôi lắm. Tôi được cho phép tha hồ chọn 3 bộ đồ (quần và áo) và một đôi giày (vì tôi đến Úc bằng đôi dép, dân vô sản chính hiệu!). Cho đến nay, tôi vẫn giữ 3 bộ đồ này làm kỉ niệm, còn đôi giày thì đành phải “chia tay” với nó vài năm sau. Đó cũng chính là lí do tại sao sau này tôi tích cực cho quần áo và cho tiền Hội St Vincent de Paul.

Có quần áo rồi, đến lúc đi học tiếng Anh. Những ngày đầu tôi cũng ghi danh học tiếng Anh, nhưng không thích. Cách dạy tiếng Anh ở đây chủ yếu là để học viên có đủ kiến thức và chữ nghĩa để đi xin việc, chứ không để học. Ngày nào cũng “How are you”, “I am fine, thank you”, “I am looking for a jo”, v.v. làm tôi chán ngấy. Tôi chỉ học được một tuần thì bỏ lớp học. Tôi quyết tâm tự học. Để tự học, tôi phải có cuốn từ điển Anh – Anh, vì tôi quan niệm học tiếng Anh từ tiếng Anh thì dễ hơn. Thế là với 30 đôla trong túi, tôi đi xe điện ra Sydney (cách Cabramatta khoảng 40 cây số). Ôi, xe điện sao mà sang thế và chạy nhanh thế. Tôi đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Người quê lên thành ra sao, thì tôi y chang như thế. Cái gì cũng nhìn, cũng ngạc nhiên. Đến tiệm sách Dymock, tôi gặp anh nhân viên bán hàng và nói: I want to buy an Oxford dictionary (tôi muốn mua một cuốn từ điển Oxford). Tôi nghĩ xe Ford mình đọc là “pho”, vậy thì Oxford mình đọc là “Ox-pho”, nên tôi đọc là ócx-fo. Anh chàng bán sách chẳng hiểu tôi nói gì, nhưng tôi thì tự tin là muốn mua từ điển đó. Anh ta rất lịch sự, kiên nhẫn nghe tôi nói, nhưng chắc anh ấy chẳng hiểu gì, nên đề nghị tôi viết xuống giấy. OK, tôi viết xuống ngay: OXFORD. Anh ấy đọc xong rồi mới vỗ trán một cái và nói: Ah, Ocx-phớt. Nói xong, anh dạy tôi đọc chữ đó, và dặn tôi nhớ đọc như anh ấy, chứ đọc kiểu tôi chẳng ai hiểu đâu. Ôi, một bài học tiếng Anh nhớ đời. Không bao giờ chủ quan về tiếng Anh!  Anh bán hàng rất tử tế, anh dẫn tôi đến hàng từ điển, có hàng chục loại từ điển, và anh giảng giải công dụng của từng loại, rồi hỏi tôi vậy anh muốn mua cuốn nào? Thú thật, anh ta nói nhiều, chứ tôi có hiểu anh ấy nói gì đâu, chỉ nghe lõm bõm thôi. Cuối cùng thì tôi cũng mua được một cuốn vừa ý, tốn mất 15 đôla. Cuốn từ điển này vẫn còn trong tủ sách của tôi. Mỗi lần thấy nó, tôi nhớ đến câu chuyện phát âm Oxford.

Ngày ngày tôi học tiếng Anh bằng cách đọc báo và xem tivi. Mỗi ngày tôi mua một tờ báo, đọc tin tức và bình luận. Chữ nào không biết tôi tra từ điển. Mỗi ngày có khi học được 1 chữ, nhưng học từ nguồn gốc, các biến thể và cách sử dụng của nó. Đến chiều, bật tivi xem người đọc tin họ đọc chữ đó ra sao, và tôi đọc lại. Có những chữ làm tôi bất ngờ. Chẳng hạn như Dymock, không phải đọc là Đi-mốck mà là Đi-míck. Có những chữ như allowance, tôi cũng học cách phát âm từ tivi. Nói chung, cách học này cần thời giờ, mà lúc đó thì thời giờ của tôi khá thoải mái. Tự học như thế cả 3 tháng trời, và cộng với vốn liếng từ trại tị nạn và tiếng Tây, tôi thấy mình cũng đủ “vũ khí” để đi xin việc làm. Xin việc làm lúc đó rất quan trọng, vì chẳng những cho mình, mà còn lo cho bên nhà. Nhưng dạo đó, kinh tế Úc đang trong thời kì suy thoái, nên rất khó tìm việc làm. Khó thì khó, nhưng mình phải quyết tâm. Việc gì cũng làm, miễn là có việc làm để kiếm tiền.

Sau vài tuần cực khổ tôi tìm được việc làm. Cực khổ ở đây có nghĩa là ngày nào cũng lội bộ (lúc đó đâu có xe) hàng chục cây số trong cái nắng chói chang để gõ cửa các hãng xưởng xin việc. Cuối cùng thì tôi tìm được việc phụ bếp (tiếng Anh gọi là kitchen hand) ở bệnh viện St Vincent’s. Nhà bếp rất lớn, có đến hơn 30 nhân viên, phục vụ cho cả ngàn bệnh nhân mỗi ngày. Menu và món ăn rất phức tạp, và có thể thay đổi hàng ngày. Nhiệm vụ chính của tôi là lột cũ hành tây và rửa nồi niêu xoong chảo. Hôm đầu vào việc, anh chàng sếp nhà bếp phụ trách khu phục vụ tên là Jerry dẫn tôi đến một bao cũ hành tây thật là lớn, lớn đến nổi từ hồi cha sanh mẹ đẻ đến giờ tôi chưa bao giờ thấy bao nào bự như thế. Tôi hơi hoảng và hỏi: Tao phải lột hết củ hành trong bao này à? Jerry nhún vai nói: Thì đó là việc của mày mà! Mà, đúng là việc của tôi thật. Vậy mà mình ngây thơ còn hỏi!

Hai hôm đầu, ngày nào tôi cũng chảy nước mắt. Không phải nhớ nhà hay tủi thân gì cả, mà là hành tây làm cay mắt. Thế mà chỉ vài ngày sau, tôi biết được bí quyết không làm mình “khóc” nữa, và tôi lại yêu công việc của mình. Nguyên tắc của nhà bếp là không ai đứng xớ rớ mà không làm gì; ai cũng phải làm. Do đó, khi xong việc của mình thì phải tự tìm việc khác mà làm. Việc khác có thể là lau chùi khu mình làm cho sạch sẽ hơn hay phụ người khác. Những lúc rảnh rổi (rất hiếm hoi), tôi mon men đến anh chàng bếp trưởng (chief cook) hỏi xem anh ta có việc gì cho mình không. Anh ta giao cho tôi xào thịt bò sơ sơ, để anh ta nấu. Ui chao, lần đầu tiên thấy cả tấn thịt bò, tôi phát ngán. Ở cái nhà bếp này, cái gì cũng nhiều và lớn. Ở đây, làm là “làm thật”, hiểu theo nghĩa làm đúng giờ. Buổi sáng có tea break (giải lao) đúng 15 phút, buổi ăn trưa gói gọn trong vòng 30 phút, buổi chiều cũng có giải lao 15 phút. Trước giờ và sau khi xong giải lao, nhân viên đưa cái thẻ của mình vào cái máy tính giờ; nếu mình giải lao hay ăn trưa quá giờ thì sẽ bị trừ lương theo thời lượng “lấn” sang giờ làm việc. Vì máy tính, nên không có chuyện tranh cãi ở đây. Nhìn phong cách làm việc này, tôi mới hiểu về “tác phong công nghiệp” có nghĩa là gì, và thấy ở Việt Nam làm việc quá thoải mái.

Nói là “nhà bếp”, nhưng khâu an toàn và vệ sinh ở đó thì không chê được. Tất cả dụng cụ nhà bếp đều được sắp xếp thứ tự, đâu ra đó. An toàn được xem là nguyên tắc số 1. Tuần nào cũng có thanh tra an toàn vào kiểm tra. Ngày nào cũng có nhân viên kiểm tra chất lượng (quality control) đến để xem xét thức ăn.   Tất cả nhân viên nhà bếp rất ngán mấy anh chàng thanh tra. Họ đến bất cứ lúc nào, và không báo trước. Họ xem qua nhà bếp có an toàn không, dụng cụ nhà bếp có để đúng chỗ không, nước nóng có an toàn, v.v. Chỗ nào mà không an toàn thì anh sếp bị đem ra cảnh cáo, thậm chí mất việc. Sợ nhất là anh chàng cầm cái nhiệt kế. Khi xe chở thức ăn cho bệnh nhân ra cầu thang, anh ta chỉ việc đưa cái nhiệt kế vào một món ăn một cách ngẫu nhiên, nếu nhiệt độ không đủ nóng, tất cả sẽ phải làm lại! Không có tha thứ và nhân nhượng. Ngay cả bà giám đốc nhà bếp cũng ngán mấy anh thanh tra này.

Tôi làm ở nhà bếp này gần 1 năm. Một năm đó cho tôi những bài học về kỉ luật lao động, an toàn lao động, và nhất là thấu hiểu cái cực khổ của người làm việc tay chân. Những đồng nghiệp kitchen hand của tôi (khoảng 10 người) toàn là dân tị nạn. Họ là dân Đông Âu cũ, một số từ Trung Quốc, và tôi là người Việt Nam duy nhất ở đây. Tất cả họ đều là những người thành đạt ở quê nhà họ (có anh chàng là bác sĩ, vài ba anh chàng kĩ sư, luật sư, thậm chí nhà báo). Tất cả đều xếp quá khứ và vui vẻ với công việc. Riêng tôi thì vui lắm vì có tiền mua sắm xe hơi, mua máy hát, mua sách (hồi đó tôi mê sách lắm), và gửi về nhà. Những lúc sau một ngày làm việc mệt nhoài, tôi nghĩ chẳng lẽ cuộc đời mình sẽ ở nhà bếp này mãi hay sao. Làm được vài tháng thì tôi xin đi học lại. Câu chuyện xin đi học và phỏng vấn là một kỉ niệm khác sẽ kể sau khi có dịp. Sau này, tôi xin làm ca ban đêm để đi học ban ngày, nhưng thấy oải quá, nên thay đổi xin làm ban ngày và học ban đêm (part-time). Ngày nào cũng 11 pm mới về đến nhà. Những ngày tháng đó rất ư là bận rộn, nhưng hình như tôi chẳng quan tâm đến bận rộn.

Cuộc đời là một cõi đi về. Gần 10 năm sau, tôi quay về bệnh viện St Vincent’s. Tôi vẫn không quên đồng nghiệp mình, nên ngày đầu tiên về bệnh viện cũ, tôi ghé thăm các bạn nhà bếp. Những người bạn cũ của tôi già đi nhiều (tôi lúc đó vẫn còn trẻ, nhưng vài năm nữa là cũng 40 tuổi). Gặp nhau tay bắt mặt mừng, họ hỏi tôi bây giờ mày làm ở đâu và làm gì, tôi chỉ tay sang cái building bên kia đường Victoria và nói tao làm ở đó nhưng tôi không nói làm gì. Gần 20 năm sau, tôi trở thành professor, và ngày được đại học chính thức tiến phong, ông giáo sư viện trưởng mới phát hiện tôi từng làm phụ bếp ở đây.  Số là người làm PR cho Viện muốn làm một phỏng vấn tôi sau khi nghe tôi xuất thân là refugee và cũng từng làm kitchen hand ngay tại bệnh viện này trước đây (đó là những chất liệu tốt cho PR), nhưng tôi từ chối. Bà PR quay sang nói cho ông Viện trưởng biết chuyện, chứ ông ấy chẳng bao giờ quan tâm hỏi han chuyện cá nhân hay đọc CV, mà CV thì cũng không có mục đó vì chỉ liệt kê chức vụ 10 năm gần nhất mà thôi. Ông ấy tỏ vẻ rất thú vị và hỏi tôi về hành trình từ người refugee đến nay, tôi chỉ nói rằng cuộc đời của mỗi người Việt Nam thế hệ tôi là một pho sử, tôi không thể nói trong vòng vài phút được. Ông ấy trầm ngâm một lúc rồi nói: So, welcome back!

Không ai bước vào một dòng sông 2 lần - người ta nói như thế. Mọi việc đều đổi thay trong 30 năm qua. Ba mươi năm trước, một lít xăng chỉ tốn 20 cent, ngày nay là 1.4 đôla.  Ba mươi năm trước, một căn nhà 3 phòng tốn chừng 50 ngàn đôla; ngày nay thì 500 ngàn đôla. Ngày ấy, đường xá còn vắng, còn bây giờ thì kẹt xe hàng ngày. Thời tiết cũng đổi thay.  Ngày 26/1/1982, nhiệt độ như tôi nói trên là 42 độ C, nhưng ngày 26/1/2012 thì trời mưa tầm tã, mưa đến nổi ban tổ chức ngày Quốc khánh Úc phải huỷ bỏ một số kế hoạch ăn mừng. Thật ra, năm nay ở Sydney không có mùa hè đúng nghĩa. Cá nhân tôi chắc cũng có thay đổi.  Thay đổi hiển nhiên nhất là ... già đi và có phần khó tính hơn. :-) Tôi thường nói đùa chắc tại mình thấy thời gian còn lại không nhiều, nên việc gì người dưới cấp mình làm chậm là tôi dễ nổi nóng. Nói vậy chứ tôi vẫn nhớ đến tỉ số thiền để điều chỉnh tính tình mình.

Cứ mỗi lần đến ngày 26/1 tôi lại nghĩ đến những ngày tháng đầu tiên trên đất Úc. Thời đó, rất ít người Việt, nên tất cả chỉ là tự học hỏi lẫn nhau. Còn bây giờ thì người Việt mới định cư ở Úc có nhiều thuận lợi hơn vì đã có đồng hương hay bà con chỉ dẫn đường đi nước bước. Theo thống kê, hiện nay đã có gần 300 ngàn người Việt ở Úc.  Sau 30 năm, một thế hệ mới người Việt ở Úc đã ra đời và trưởng thành. Trong số này có con cháu tôi. Thế hệ này không hề biết (hay chỉ biết chút chút) về những ngày bĩ cực của thế hệ tôi trên đất Úc ra sao, vì chúng nó đang hưởng “quả” mà cha ông chúng gieo trước đây. Chúng nghe chuyện cũ mà tưởng là chuyện cổ tích.  Phần lớn thế hệ này đều tốt nghiệp đại học, có người thành danh, và nói tiếng Anh như người bản xứ, chứ đâu phải như tôi ngày xưa. Vì vậy, nhìn lại chặng đường đã qua, tôi phải nói lời cám ơn nước Úc, nơi đã cưu mang tôi trong thời kì khó khăn nhất. Chẳng những cưu mang mà còn cho mình cơ hội để học hành và đóng góp cho quê hương mình (dĩ nhiên là cũng có đóng góp cho Úc). Tôi là người phê bình Úc nhiều nhất (có khi nặng nề), nhưng tôi vẫn thương yêu đất nước này như tôi thương yêu quê nhà VN mình.  Dù mang quốc tịch Úc và mang passport Úc, nhưng lạ thay, tôi không bao giờ nghĩ mình là người Úc. Bất cứ lúc nào và bất cứ ở đâu, bất cứ ai hỏi tôi đến từ đâu hay dân tộc gì, tôi đều nói Việt Nam.

NVT

Lần cập nhật cuối lúc Thứ năm, 26 Tháng 1 2012 08:08 Read : 8069 times
 
© Nguyễn Văn Tuấn | Powered by Joomla! | Designed by NDN | Hosted by Michael Hung
Lưu ý: Xem trang web tốt nhất bằng trình duyệt Firefox
Home Tạp ghi - Linh tinh Tạp ghi Kỉ niệm 30 năm ở Úc