Home Khoa học Khoa học Đàm đạo chuyện làm khoa học

Tìm thông tin

Gắn bài

Khách ghé thăm

Hiện có 41 khách trực tuyến

Lượt đọc (từ 16/05/10)

: 8519426


Theme by:





Kindly supported by:
Michael Hung Productions




Đàm đạo chuyện làm khoa học In Email

http://www.brainpickings.org/wp-content/uploads/2011/10/scienceisculture.jpgĐây là bài đàm đạo với báo Sinh Viên Việt Nam. Bài này bàn về những vấn đề liên quan đến chủ đề “đạo đức khoa học”, cụ thể là chuyện đạo văn, nhưng phóng viên Lê Ngọc Sơn cũng có hỏi về sự khả kính của một học giả. Tôi đoán anh ấy xem các tác giả khoa học là học giả. Tôi không biết người ta lấy tiêu chuẩn gì để đánh giá “khả kính”, nhưng trong ngành nói tên ra thì hình như ai cũng biết. Tuần vừa qua, bà Elizabeth Blackburn (Giải Nobel y sinh học năm 2009) có một buổi giảng ở Viện Garvan rất thú vị, và bà cũng có nói đến những yếu tố làm cho một nhà khoa học có tiếng (chỉ nói phớt qua nhưng bà nhấn mạnh đến chuyện trích dẫn). Xin chia sẻ cùng các bạn bản gốc của bài phỏng vấn khá dài này, nhưng cũng sẵn dịp nói chuyện bên lề ...

 

Tôi “quen” với SVVN chắc cũng khoảng 3 năm. Lúc đầu là qua một phóng viên có họ rất đặc biệt: Cáp. Phóng viên Cáp Ngọc Dung. Lúc đó Ngọc Dung mời tôi viết bài gì đó (bây giờ không còn nhớ nữa). Năm 2010, tôi có dịp đi công tác ở Hà Nội và gặp thêm một bạn khác trong SVVN: đó là Lê Ngọc Sơn. Chúng tôi (Dung, Sơn và tôi) còn hẹn hò nhau trong một pub bia ở gần khách sạn Fortuna. Không phải để nhậu nhẹt gì đâu, mà nói chuyện nghiêm chỉnh về những đề tài liên quan đến giáo dục đại học và khoa học. Một buổi trò chuyện thú vị. Tôi thấy mấy bạn ở Hà Nội thường có suy nghĩ (nói theo tiếng Anh chắc là thoughtful) hơn các bạn trong Nam.

Nhân vụ những bài báo khoa học của nhóm LĐT bị rút lại, Lê Ngọc Sơn có nhã ý đàm đạo với tôi. Chủ đề là đạo đức khoa học và đạo làm khoa học. Nói chung là chủ đề lớn, và tôi chỉ biết nói lên ý kiến cá nhân, chứ chưa chắc có bài bản gì. Bài phỏng vấn hơi dài, và chắc phải biên tập lại cho phù hợp với tờ báo hơn.

NVT

****

Thưa GS, cảm nghĩ của ông thế nào, về vụ các tạp chí quốc tế vừa tố cáo trường hợp đạo văn của Lê Đức Thông?

NVT: Tôi thấy đây là một vụ việc nghiêm trọng và đáng tiếc. Sự việc 7 bài báo đã được công bố và đều bị rút xuống do đạo văn là một vi phạm đạo đức khoa học nghiêm trọng. Đáng tiếc là vì sự việc và những lùm xùm chung quanh sự việc ảnh hưởng rất tiêu cực đến sự nghiệp của anh Lê Đức Thông và nhóm tác giả. Xin nói thêm rằng các tạp chí không tố cáo; họ chứng minh rằng nhóm tác giả đã đạo văn. Trong một bài bình duyệt (peer review) mà tôi đọc được, một chuyên gia bình duyệt chỉ ra nhiều đoạn trong phần dẫn nhập và bàn luận trong bài báo được lấy từ nhiều bài báo khác mà nhóm tác giả không ghi nguồn. Sau này người ta còn phát hiện những bài khác của nhóm tác giả cũng có đạo văn. Do đó, các tập san rút lại những bài báo đó là quyết định hoàn toàn hợp lí.

Theo GS, hành động như thế nào thì bị coi là “đạo văn”?

NVT: Đạo văn được định nghĩa là sử dụng ý tưởng hay câu văn của người khác mà không ghi rõ nguồn gốc. Ở đây, “Ý tưởng và từ ngữ của người khác” có nghĩa là: sử dụng công trình hay tác phẩm của người khác, lấy ý tưởng của người khác, sao chép nguyên bản từ ngữ của người khác mà không ghi nguồn, sử dụng cấu trúc và cách lí giải của người khác mà không ghi nhận họ, và lấy những thông tin chuyên ngành mà không đề rõ nguồn gốc.

Chiếu theo định nghĩa chuẩn trên, có rất nhiều hình thức đạo văn. Những hình thức chính là: (1) lấy ý tưởng hay nhiều câu chữ của người khác mà không ghi nguồn; (2) lấy ý tưởng của người khác nhưng viết lại câu văn mà không ghi nguồn; (3) nhờ người khác viết dùm và lấy đó làm tác phẩm của mình; (4) mua luận văn từ chợ luận văn trên internet; (5) mượn bài làm của đồng môn làm bài làm của mình, v.v. Tất cả những hình thức này đều xem là đạo văn. Dĩ nhiên, những gì thuộc về kiến thức phổ quát thì không cần trích dẫn nguồn và không xem là đạo văn.

Là người châu Á, lại làm việc ở một môi trường học thuật của “Tây”. GS thấy về mặt văn hóa, các nhìn nhận về đạo văn có khác nhau không? Nếu có, thì khác thế nào?

NVT: Ở những nước có nền khoa học và học thuật đã đi vào nề nếp (như Úc chẳng hạn) thì học sinh tiểu học và trung học đã được dạy rằng đạo văn là một hành vi không chấp nhận được, giống như ăn trộm – ăn trộm tri thức. Học sinh có tự giác rất cao về đạo văn. Chẳng hạn như trong gia đình, tôi không thể nào làm bài tập cho con tôi vì cháu dứt khoát không chịu (cháu nói “cô giáo nói như vậy là đạo văn, là xấu”). Do đó, khi lên đại học, sinh viên đã quen với “văn hoá tự lập”, và họ ít đạo văn. Xin nói là “ít” chứ không phải là “không có” đạo văn. Trong thực tế, đạo văn vẫn thường hay xảy ra ở cấp đại học.

Ở Việt Nam, chúng ta có truyền thống học thuộc lòng, và trả bài theo những bài văn thầy cô ra đề. Học sinh nào đọc y chang những gì trong sách giáo khoa, thì được điểm cao. Đó là một hình thức … đạo văn. Tôi không nói thói quen đó là nguyên nhân làm cho học sinh Việt Nam đạo văn; tôi muốn nói rằng thói quen đó tiềm ẩn nguy cơ đạo văn ở học sinh Việt Nam. Quan trọng hơn, thói quen đó làm cho học sinh và sinh viên có khi không phân biệt hay thậm chí nhận thức được ranh giới giữa đạo văn và trích dẫn.

Từ đó, dẫn đến sự khác nhau về hình thức đạo văn. Sinh viên phương Tây thường đạo văn qua lấy ý tưởng hoặc viết lại câu văn của người khác (mà không ghi nguồn). Còn sinh viên Á châu thì lấy nguyên câu văn của người khác mà không ghi nguồn. Đó là khác biệt căn bản mà tôi thấy được.

Là người hướng dẫn nhiều sinh viên châu Á, và là thành viên bình duyệt nhiều tạp chí y khoa nổi tiếng, GS thấy người Việt hay mắc lỗi đạo văn không? Nếu có, những kiểu lỗi thường gặp là gì?

NVT: Đúng là tôi có hướng dẫn cho vài (chứ không phải “nhiều”) nghiên cứu sinh gốc Á châu. Trong các nghiên cứu sinh tôi hướng dẫn, chưa thấy ai đạo văn cả, vì họ được cảnh báo và hướng dẫn ngay từ ngày đầu vào học.

Tôi cũng duyệt bài cho các tập san khoa học, luận án, đề cương nghiên cứu, v.v. hàng tuần. Thỉnh thoảng tôi cũng gặp trường hợp đạo văn. Chẳng hạn như mới 2 tháng trước đây, tập san chúng tôi đã chấp nhận một bài báo từ nhóm tác giả Trung Quốc và đã công bố trên mạng 1 ngày, thì chúng tôi nhận được điện thư của một người từ Trung Quốc chỉ ra rằng bài báo đó lấy gần 80% văn của một bài báo khác. Chúng tôi đã rút bài báo xuống trong vòng 1 giờ đồng hồ.

Trong vài năm gần đây, tôi cũng có dịp duyệt bài và góp ý cho các đồng nghiệp trong nước và phát hiện khá nhiều trường hợp đạo văn. Có 3 trường hợp mà đương sự lấy từ những bài báo trên mạng. Có trường hợp hi hữu là một em nghiên cứu sinh gửi đề cương cho tôi góp ý mà trong đó em lấy gần 3 trang từ sách của tôi! Đạo văn ở sinh viên và nghiên cứu sinh Việt Nam thường rất “thô”, tức là họ lấy nguyên câu văn của người ta. Điều này tôi nghiệm ra là vì họ kém tiếng Anh, nên không có khả năng viết lại và diễn giải lại ý tưởng của người ta. Có em còn nói rằng đọc xong câu văn thấy hay quá nên không biết viết lại như thế nào cho đúng hơn! Nói chung là đạo văn một phần có lẽ xuất phát từ vấn đề ngoại ngữ.

Nhưng yếu tố sắc tộc cũng có thể ảnh hưởng đến xu hướng đạo văn. Có người cho rằng sinh viên châu Á nói chung có xu hướng đạo văn hơn là sinh viên phương Tây. Nhưng theo tôi biết không có bằng chứng nào cho giả thuyết đó cả. Một nghiên cứu mới công bố trên tập san Management Learning (năm 2011) cho thấy sinh viên châu Á và Mĩ có xu hướng đạo văn như nhau, và do đó giả thuyết sắc tộc có thể không đúng.

Cách ứng xử của ông khi gặp các trường hợp đạo văn là...?

NVT: Đối với tập san thì chúng tôi rút bài báo xuống và thông báo cho nhóm tác giả biết. Đối với những luận án có nội dung đạo văn thì bằng cấp sẽ bị rút lại cho đến khi nghiên cứu sinh giải quyết xong vấn đề. Mới đây, một đại học Úc rút lại hàng chục văn bằng thạc sĩ quản trị kinh doanh của một nhóm sinh viên Mã Lai vì đạo văn. Riêng đối với các trường hợp ở Việt Nam tôi vừa đề cập, tôi chỉ nói riêng cho tác giả hoặc người hướng dẫn biết để mà sửa đổi, chứ cũng không làm lớn chuyện.

Theo ông, giới học thuật VN có bị ảnh hưởng từ những vụ đạo văn “rùm beng” này không, thưa ông?

NVT: Tôi nghĩ không, vì trường hợp này tương đối cá biệt. Đạo văn có thể xảy ra bất cứ ở đâu và trong môi trường học thuật nào. Thật ra, có nghiên cứu cho thấy khoảng 20% trong các bài báo đã công bố trên các tập san khoa học có dấu hiệu đạo văn.  Do đó, tôi nghĩ những vụ đạo văn mà báo chí làm ồn ào trong thời gian gần đây không có ảnh hưởng gì lớn đến học thuật Việt Nam.

Nhưng không loại trừ trường hợp các đồng nghiệp nước ngoài nhìn đồng nghiệp Việt Nam với ánh mắt nghi ngờ. Vài năm trước khi vụ Hwang Woo-Suk xảy ra (Giáo sư Hwang Woo-Suk nguỵ tạo dữ liệu) làm cho giới khoa học Hàn Quốc mỗi lần nộp bài báo khoa học cho các tập san, họ nộp cả số liệu gốc như là một cách để nói rằng “Chúng tôi trong sạch nhé”!

ĐẠO LÀM KHOA HỌC

Có một GS trò chuyện riêng với PV SVVN rằng, nếu lục lại các luận án thạc sĩ hay tiến sĩ ở VN, chắc sẽ phải dở khóc dở cười vì có những luận án giống nhau? GS có nghĩ là đạo văn đang ở mức trầm trọng ở VN?

NVT: Tôi cũng nghĩ vậy. Có thể những luận án đó cũng không xứng đáng văn bằng được cấp. Vấn đề ở Việt Nam là người ta thích đưa vào công thức. Ngay cả luận án tiến sĩ mà người ta cũng đưa vào những qui định cụ thể về cách viết tựa đề, số chương, số trang, v.v. Những qui định có thể nói là rất lạ lùng như thế chẳng những bóp chất tính sáng tạo của nghiên cứu sinh, mà còn có thể dẫn đến tình trạng đạo văn vì nó làm cho nhiều luận án đều na ná giống nhau.

Thật ra, mấy năm trước tôi đã thấy nhiều sách giáo khoa, giáo trình giảng dạy ở trong nước có dấu hiệu hoặc là lấy dữ liệu từ sách nước ngoài mà không ghi nguồn, hoặc dịch từ sách nước ngoài. Người trong ngành chỉ cần nhìn qua vài biểu đồ hay bảng số liệu quen thuộc là có thể nhận ra nguồn gốc của những dữ liệu đó từ đâu. Tuy chưa có một cuộc điều tra nào, nhưng qua trao đổi với nhiều đồng nghiệp trong nước, ai cũng nghĩ đạo văn rất phổ biến không chỉ ở các trường đại học, mà còn ở cấp trung học nữa. Tôi nghĩ nếu Việt Nam của chúng ta muốn trở thành một “diễn viên” khả kính trên trường khoa học quốc tế thì chúng ta phải nghiêm túc giải quyết vấn nạn đạo văn trong học thuật và học đường.

Quay lại trường hợp Lê Văn Thông, dư luận đang nhắm mũi tên vào anh này, tuy nhiên những người đứng tên cùng có vẻ đang muốn trốn tránh trách nhiệm. Ông có bình luận gì?

NVT: Bây giờ thì chúng ta biết rằng có ít nhất một bài báo tuy có 4 tác giả nhưng có tác giả chẳng có đóng góp một chữ nào hay một số liệu nào trong đó.  Ấy thế mà tác giả này vô tư nhận làm “tác giả”.  Đó là một vi phạm đạo đức khoa học.  Chúng ta cũng biết rằng khi sự việc đạo văn chưa được phát hiện thì chẳng có tác giả nào phàn nàn, thậm chí có tác giả còn được biểu dương vì có tên trong một công trình nghiên cứu (vừa bị rút xuống), nhưng khi có vấn đề thì ai cũng “chạy dài” và đổ thừa của một mình cá nhân Lê Đức Thông!  Đó là thái độ đáng trách và thiếu quang minh chính đại.  Đứng tên tác giả là đồng ý với nội dung bài báo, và có trách nhiệm trước công chúng. Do đó, đã kí tên tác giả thì phải chịu trách nhiệm, chứ không nên đổ lỗi cho một anh cử nhân đang tập tểnh làm nghiên cứu khoa học. Vì thế, rất khó nói các tác giả khác không có phần trách nhiệm trong vụ việc.

Theo thông lệ của “làng” học thuật quốc tế, hình phạt cho một người đạo văn là gì?

NVT: Hình phạt rất khác nhau cho mỗi cấp và trường hợp. Nếu sinh viên bị phát hiện có đạo văn thì có thể bị đuổi khỏi trường. Trên lí thuyết là thế, nhưng trong thực tế thì chỉ cảnh cáo, chứ ít ai bị đuổi vì đạo văn. Nếu là người đã có bằng cấp mà luận văn có đạo văn thì bằng cấp sẽ bị rút lại. Chúng ta còn nhớ vụ ông zu Guttenberg, cựu bộ trưởng quốc phòng Đức, phạm tội đạo văn trong luận án tiến sĩ của ông, và trường rút lại bằng tiến sĩ, ông cũng từ chức bộ trưởng. Nếu là một giáo sư phạm tội đạo văn thì có thể hình thức là buộc từ chức (như đã xảy ra ở một trường đại học Úc) hay cảnh cáo (nếu là trường hợp nhẹ). Mới đây, một giáo sư Đại học Harvard đạo văn từ những bài ông bình duyệt cho người khác, và hình thức phạt là cấm ông không được bình duyệt bài trong vòng 3 năm. Nói chung, hình thức phạt còn tuỳ thuộc vào qui mô và tính nghiêm trọng của vấn đề.

Trên thế giới, người ta có cách gì để phát hiện ra đạo văn?

NVT: Rất khó phát hiện đạo văn. Phần lớn trường hợp đạo văn là được phát hiện tình cờ, hoặc có người khác chỉ ra. Một người bình duyệt không thể nào đọc hết hay biết hết tất cả các bài báo liên quan. Một người hướng dẫn cũng không thể nào đọc tất cả những bài báo hay sách liên quan đến một đề tài hẹp. Trong nhiều trường hợp, đạo văn bị phát hiện vì đồng nghiệp trên thế giới báo cho biết. Đây cũng chính là lí do tôi hay nói rằng công bố quốc tế là hình thức “thử axit” để biết thật giả. Nếu luận án chưa bao giờ công bố quốc tế mà chỉ lưu hành nội bộ đại học thì rất khó biết có đạo văn hay không.

Tuy nhiên, trong vài trường hợp cá biệt tôi phát hiện ở Việt Nam là khi tôi đọc một đoạn văn rất đẹp và chuẩn mực, trong khi đó những đoạn khác thì rất … Việt Nam (tức viết tiếng Anh theo kiểu tiếng Việt), nên tôi nghi ngờ đây là trường hợp lấy văn người khác, và trong thực tế thì đúng với tôi nghi ngờ. Ngày nay, đã có một số phần mềm máy tính (như phần mềm viper chẳng hạn) có thể giúp phát hiện đạo văn. Ngoài ra, Google cũng có phần mềm giúp nhận dạng những trường hợp đạo văn. Nhưng các phần mềm này chủ yếu thiết kế cho văn bản tiếng Anh, chứ chưa áp dụng cho tiếng Việt.

Theo ông, điều gì làm nên sự khả kính của một học giả?

NVT: Theo tôi, những yếu tố làm nên một học giả khả kính là có đóng góp quan trọng cho chuyên ngành, có công trình gây ảnh hưởng lớn, và có trách nhiệm xã hội.

Có đóng góp quan trọng cho chuyên ngành. Tôi nghĩ tiêu chuẩn hàng đầu mà nhà khoa học có được sự kính trọng của đồng nghiệp và xã hội là đóng góp của nhà khoa học cho chuyên ngành nói riêng và cho khoa học nói chung. Đóng góp ở đây có thể là làm thay đổi một quan điểm, tạo ra một định hướng mới, hay chuyển giao thành quả nghiên cứu đến bệnh nhân (trong trường hợp y khoa), v.v. Một người sếp cũ của tôi thường hay nói rằng các đồng nghiệp phải tự hỏi việc mình làm có đem lại lợi ích cho những người đang đi trên đường phố kia không. Mai kia mốt nọ chúng ta đều sẽ qua đời, và nếu cái gì mà chúng ta để lại cho đời có giúp ích cho bệnh nhân hay cho con người là một thước đo của đóng góp.

Có công trình công bố trên những tập san khoa học hàng đầu hay có ảnh hưởng lớn. Trong giới khoa học, công bố nghiên cứu trên những tập san hàng đầu (hiểu theo nghĩa có chỉ số ảnh hưởng cao) hay những công trình được nhiều đồng nghiệp trích dẫn là một thước đo quan trọng của sự kính trọng. Do đó, chúng ta không ngạc nhiên khi thấy giới khoa học không quan tâm đến chức danh hay chức vụ; họ hay “khoe” những công trình của họ công bố trên những tập san nào.

Có trách nhiệm xã hội. Vì nhà khoa học cũng chỉ là một thành viên trong xã hội, chứ không thể nào đứng ngoài hay đứng cao hơn xã hội. Nhà khoa học phải thông qua các cơ chế dân chủ để truyền đạt tri thức, để có tiếng nói, không thông qua các cơ chế này là biểu hiện của sự kiêu ngạo. Trong thập niên 1960s, trước chiến dịch sử dụng chất độc da cam ở Việt Nam, các nhà khoa học Mĩ cũng đã lên tiếng phản đối, và một số còn lên án gay gắt hành động này và và yêu cầu Chính phủ Mĩ phải ngưng ngay việc dùng hóa chất độc hại. Năm 1967, Hiệp hội vì Phát triển Khoa học Mĩ (American Association for the Advancement of Science), với sự thúc đẩy của Giáo sư E. W. Pfeiffer (Đại học Montana), khuyến cáo Bộ quốc phòng Mĩ về hậu quả lâu dài cho người dân và môi sinh Việt Nam do chiến dịch phun hóa chất gây ra. Mới đây, Việt Nam bàn thảo dự án xây một nhà máy điện hạt nhân, và các nhà khoa học trong và ngoài nước cũng đã góp ý khá sôi nổi.

Chuẩn mực (“đạo”) nào lèo lái một nền học thuật lành mạnh, thưa ông? Đâu là yêu cầu tiên quyết của đạo làm khoa học?

NVT: Câu hỏi này quá bao quát! Tôi chỉ có thể nói lên những suy nghĩ của mình, xuất phát từ những trải nghiệm cá nhân thôi. Tôi nghĩ đến những tiêu chuẩn sau đây cho một nền học thuật lành mạnh: tự do học thuật, dân chủ, tính kế thừa, và tôn trọng đạo đức.

Thứ nhất là tự do học thuật. Trong một nền học thuật lành mạnh, giảng viên và sinh viên trong đại học có quyền tự do nghiên cứu, tự do giảng dạy và tự do học hỏi và tìm hiểu mà không bị kiểm duyệt, đàn áp, hay chi phối bởi các thế lực chính trị và kinh tế.  Một nền khoa học mà không có tự do học thuật thì không thể nào phát triển được, vì nền khoa học đó chịu sự chi phối của các thế lực chính trị hoặc tôn giáo và tập trung nguồn lực vào những dự án đáp ứng nhu cầu của những thế lực đó.

Thứ hai là dân chủ. Thật vậy, hoạt động khoa học là một môi trường dân chủ, hiểu theo nghĩa tất cả các phát kiến của nhà khoa học đều được đồng nghiệp bình duyệt nghiêm túc, và ngược lại, nhà khoa học cũng có cơ hội bình duyệt các nghiên cứu của đồng nghiệp mình. Dân chủ trong khoa học còn có nghĩa một mô thức nào đó được đa số cộng đồng khoa học chấp nhận, thì mô thức đó được xem là chuẩn để thực hành. Một nền khoa học mà trong đó những người “cây đa cây đề” trở thành những người độc tài và bảo thủ ra sức chèn ép các đồng nghiệp trẻ thì đó là một nền khoa học thối nát.

Thứ ba là sự kế thừa. Điều đẹp nhất của khoa học không chỉ là dân chủ mà còn mang tính kế thừa, chuẩn bị cho một thế hệ tiếp nối. Ở các nước phương Tây, người ta có những kế hoạch cụ thể, kể lập ra những ngân sách đặc biệt, để nuôi dưỡng thế hệ nghiên cứu khoa học trẻ. Không có kế thừa, khoa học sẽ là đi vào bế tắc rất nhanh.

Thứ tư là minh bạch. Làm khoa học là một hành trình đi tìm sự thật, khai hóa, truyền bá cái mà chúng ta gọi là “văn minh”. Phát hiện của khoa học phải được công bố trên các diễn đàn công cộng để các đồng nghiệp có cơ hội xem xét và đánh giá. Công bố kết quả nghiên cứu cũng là một hình thức kế thừa, vì kiến thức được truyền từ đời này sang đời khác, và các bài báo khoa học là đóng góp vào việc duy trì văn hoá “nói có sách, mách có chứng.”

Thứ năm là đạo đức. Mỗi ngành nghề trong xã hội, nhất là những nghề có liên quan đến sự an sinh của con người hay có ảnh hưởng đến một quần thể lớn, đều có những chuẩn mực về đạo đức hành nghề. Đạo đức khoa học là những qui ước liên quan đến thành thật tri thức (intellectual honesty), cẩn thận, tự do tri thức, ghi nhận công trạng đồng nghiệp một cách thích hợp (như đứng tên tác giả), và trách nhiệm trước công chúng. Trong một nền khoa học lành mạnh, nhất là những ngành có liên quan đến sự an sinh của con người (như y khoa, xã hội học), nhà khoa học còn phải tôn trọng quyền của đối tượng nghiên cứu và duy trì nguyên tắc số 1 là không làm tổn hại đến người. Một nền khoa học mà trong đó nhà khoa học xem thường đối tượng nghiên cứu hay gây tác hại cho họ là một nền khoa học thối nát chẳng khác gì khoa học phát xít.

***

TB: Bản biên tập đã đăng trên Sinh viên Việt Nam với một tựa đề "mạnh" quá: "Ăn cắp học thuật và sự khả kính của học giả"


Tin liên quan:
Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Lần cập nhật cuối lúc Thứ hai, 18 Tháng 6 2012 15:39 Read : 3492 times
 
© Nguyễn Văn Tuấn | Powered by Joomla! | Designed by NDN | Hosted by Michael Hung
Lưu ý: Xem trang web tốt nhất bằng trình duyệt Firefox
Home Khoa học Khoa học Đàm đạo chuyện làm khoa học