Home Khoa học Khoa học Kì thị trong học thuật và khoa học

Tìm thông tin

Gắn bài

Khách ghé thăm

Hiện có 182 khách trực tuyến

Lượt đọc (từ 16/05/10)

: 8320002


Theme by:





Kindly supported by:
Michael Hung Productions




Kì thị trong học thuật và khoa học In Email

http://williamsinstitute.law.ucla.edu/wp-content/uploads/workplace-discrimination.jpgTrong vài workshop về phương pháp viết bài báo khoa học và công bố quốc tế ở Việt Nam, có nhiều bạn đồng nghiệp đặt những câu hỏi có cùng ý : trong xuất bản khoa học, có kì thị chủng tộc không? Một cách ngắn gọn, kinh nghiệm cá nhân tôi là "có". Bằng chứng về kì thị thì nhiều, nhưng không hẳn là liên quan đến chủng tộc của tác giả. Cá nhân tôi cũng từng trải qua những kì thị như thế, nên bây giờ thì có thể chia sẻ với các bạn đôi điều để rút kinh nghiệm.

 

Thứ nhất là tác giả mới xuất hiện. Tôi thường hay nói đùa rằng tác giả khoa học có thể ví von với ca nhạc sĩ. Những nghệ sĩ thành danh như Mỹ Tâm, Đàm Vĩnh Hưng, Phương Thanh, v.v. khi ra tác phẩm mới thường dễ thu hút khán giả thưởng ngoạn hơn là những ca sĩ mới vào nghề. Do đó, chiến lược của các ca sĩ mới là hát chung hay ra đĩa nhạc chung với những ca sĩ danh tiếng trước. Sau vài tác phẩm hợp tác như thế (thật ra là họ đỡ đầu) thì ca sĩ mới có thể ra tác phẩm độc lập. Trong khoa học cũng giống như vậy. Một cá nhân chưa bao giờ công bố công trình nào thì rất khó được đồng nghiệp trong ngành công nhận. Họ phải làm trong một lab có tiếng và cùng đồng nghiệp trong lab công bố vài bài trước khi trở thành độc lập. Một cách khác là hợp tác với những nhà khoa học đã thành danh và công bố chung với họ vài công trình để đồng nghiệp quốc tế biết mình đến từ đâu, trường phái nào. Nói cách khác, phải tham gia bộ lạc của họ trước khi trở thành một tác giả độc lập.

Tên tuổi có khi rất quan trọng. Chuyện kể ra thì hơi khó tin nhưng có thật. Một lần, anh đồng nghiệp người Thái sang nhóm tôi làm postdoc, anh ấy viết một bài báo với sự hỗ trợ của tôi nhưng tôi không muốn đứng tên. Anh nộp bài đó cho một tập san, nhưng chỉ một tuần sau thì bị trả về với một lời lẽ từ chối rất lịch sự. Chúng tôi “ngâm” bài báo khoảng 6 tháng, có chỉnh sửa đôi chút, và nộp lại cho tập san đó. Chỉ khác một điều là lần nộp này tôi và sếp tôi cùng đứng tên đồng tác giả. Bài báo được gửi đi bình duyệt và sau này được chấp nhận cho công bố. Đó là bài học đầu tiên mà tôi học được về tầm ảnh hưởng của tên tuổi!

Trước đây, phản ứng trước tình trạng công bố quốc tế của Việt Nam còn thấp, có người nói rằng chỉ cần dịch những bài tiếng Việt sang tiếng Anh là “họ đăng tất”. “Họ” ở đây là những tập san khoa học có bình duyệt (peer reviewed journals). Nhưng hình như người phát biểu ý đó không biết rằng đối với các tập san này, không phải gửi bài là họ công bố, vì còn phải qua bình duyệt. Đối với những tập san này, bị từ chối là qui luật chứ không phải là điều gì đáng ngạc nhiên. Ngoài ra, như tôi đề cập trên, một tác giả chưa có tên tuổi trong chuyên ngành thì rất khó có cơ hội xuất hiện một cách độc lập được. Ông bà ta có câu không thy đố mày làm nên thật lá chí lí.

Thứ hai là quốc tịch hay nơi làm nghiên cứu. Những nghiên cứu từ Á châu thường bị từ chối công bố, nhưng tỉ lệ từ chối dao động lớn giữa các nước. Trong một phân tích của tập san Am J Roentgen, các tác gi ch ra rng t l t chi công b ca tp san là 34%, nhưng các nước nói tiếng Anh có t l t chi thp hơn các nước không nói tiếng Anh. Các nước Á châu thường có t l t chi cao hơn Mĩ. Chng hn như gn 55% bài báo t Đài Loan, 42% bài t China, 73% bài báo t n Độ b t chi công b.

Tỉ lệ từ chối công bố của tập san American Journal of Roentgenology

Nước

Số bài báo nộp cho tập san trong 2 năm

Tỉ lệ từ chối (%)

2252

28

Đức

263

32

Canada

198

39

Anh

174

32

Pháp

153

38

Ý

152

41

Úc

60

45

Nht

578

42

Hàn Quc

457

35

Đài Loan

131

54

Trung Quốc

123

42

Thy Sĩ

110

25

Ấn Độ

79

73

Nguồn: Ehara S, Takahashi K. Am J Roentgen 2007;188:W113-6

 

Dĩ nhiên, những số liệu trong bảng trên chưa đủ chứng cứ để nói rằng có kì thị trong công bố khoa học. Trong thực tế, nghiên cứu từ các nước “nghèo” thường thuộc loại “me too” (tức bắt chước người khác, không có cái mới), và phạm rất nhiều sai sót về phương pháp, nên thường có tỉ lệ từ chối cao hơn các nước tiên tiến. Nhưng điều đó không thể giải thích được ti sao ngay c Úc và Nht (nhng nước có nn y hc tiên tiến) mà t l t chi cũng lên đến 45%! Ch có th gii thích rng có s kì th ngm, kì th bt thành văn. Tht ra, trong gii y khoa, ai cũng biết mt s người trong gii y khoa Mĩ rt ngo mn, h nghĩ [mt cách u trĩ] rng h thông minh nht, tiến b nht, làm nghiên cu hay nht, còn các nước khác thì ch là bt chước mà thôi.

Trong gii khoa hc còn có câu “cái gì chưa được làm Mĩ thì coi như là thế giới chưa làm”. Nói cách khác, mt s nhà khoa hc hp hòi và đố k Mĩ không thích đồng nghip ngoài Mĩ làm trước h, và nếu ai làm trước h thì h tìm mi cách không cho xut hin trên giy trng mc đen ca tp san Mĩ. Trong gii khoa hc còn có “truyn thuyết” rng người Mĩ ch thích nghe đồng nghip quc tế nói, nhưng không mun đọc nhng gì đồng nghip quc tế in. Truyn thuyết này hàm ý nói rng h chào đón đồng nghip quc tế đến Mĩ tham d và trình bày trong hi ngh, nhưng đến khi công b trên tp san thì là mt … chuyn khác.

Tôi thy có khi cái ch nghĩa dân tc có khi làm cho mt s người Mĩ tr nên hp hòi. Xin nói là “mt s” thôi, ch đại đa s thì rt đàng hoàng và rng lượng. Có ln tôi chng kiến mt chuyn không my hay ho trong mt bui hp cui năm ca ban biên tp mt tp san mà tôi là thành viên. Trong bui hp đó, nhà xut bn trình bày s bài báo nhn trong năm, s bài b t chi, lí do t chi, v.v. Mt thành viên ban biên tp đứng lên hi mt cách gay gt rng ti sao bài báo ca anh ta b t chi, và anh nhn mnh rng đó là công trình do NIH tài tr và tp san này là tp san ca Mĩ. Anh y hàm ý cht vn ti sao mt tp san Mĩ li t chi mt công trình do chính ph Mĩ tài tr. Tôi thán phc anh tng biên tp khi anh y thn nhiên nói: bài d thì b t chi thôi, ch tp san này không phân bit bài báo xut phát t đâu. Nhưng câu hi ca anh đồng nghip làm tôi suy nghĩ: nếu anh này mt ngày nào đó làm phó biên tp hay tng biên tp (tc v trí quyết định “s phn” ca bài báo) thì chc chn s có thiên v trong vic quyết định chp nhn hay t chi bài báo, và gây nh hưởng đến s nghip ca nhiu người.

Thứ ba là chủng tộc. Có l hơi khó tin nhưng trong thc tế, kì th chng tc vn tn ti trong khoa hc. Nói chung, trong y khoa, rt ít tác gi da đen; phn ln là người Âu Mĩ (da trng), và kế đến là Á châu. My năm gn đây thì các nhà nghiên cu gc Nam Mĩ cũng bt đầu xut hin thường xuyên hơn. Trong mt phân tích đề cương xin tài tr (ca NIH, Mĩ) ca trên 40,000 nhà nghiên cu, t năm 2000 đến 2006, các nhà nghiên cu phát hin mt xu hướng đáng ngi: nhà khoa hc da đen (gc Phi châu) có xác sut thành công ch 17%, so vi người châu Á (26-29%). S khác bit trên vn tn ti ngay c sau khi điu chnh cho trình độ hc vn, năm nghiên cu sau tiến sĩ, và thành tích khoa hc. Mt nghiên cu khác ca các nhà nghiên cu MIT và ĐH Chicago công b vào năm 2003 cho thy lí lch ca người da trng có xác sut được phng vn cao hơn khong 50% so vi lí lch ca người da đen, cho dù c hai có cùng trình độ hc vn và kinh nghim.

Một hình thức tung hoả mù khác cũng có thể xảy ra khi tác giả là người không nói tiếng Anh như tiếng mẹ đẻ. Một vài tuần trước đây khi một bài báo của các đồng nghiệp Việt Nam được gửi cho một tập san loãng xương (và tôi là một đồng tác giả), một chuyên gia bình duyệt (reviewer) phê bình rằng có vài chỗ viết sai tiếng Anh. Nhưng trong thực tế thì không có chỗ nào sai tiếng Anh cả. Cách đây vài năm cũng có một trường hợp tương tự, khi bài báo gồm toàn các tác giả tên VN (và tôi cũng là đồng tác giả và có biên tập bài này) gửi cho một tập san loãng xương ở Mĩ, có một chuyên gia viết một cách ỡm ờ rằng bài báo có vấn đề về tiếng Anh và cần phải viết lại, nhưng không chỉ ra bất cứ một "vấn đề" nào. Tôi không dám nói rằng bài báo đúng về tiếng Anh 100%, nhưng xác suất đúng 100% thì rất rất cao, nên với tư cách là thành viên ban biên tập có phản đối rằng kiểu phê bình như thế là nguỵ biện (kiểu tung hoả mù chung chung, rất vô văn hoá) và đề nghị không nên cho chuyên gia này tham gia bình duyệt trong tương lai. Tất cả những trường hợp này xảy ra chỉ vì tác giả có tên "lạ", nên một cách mặc định là họ dốt tiếng Anh. Đó cũng là một cách doạ những ai chưa am hiểu tiếng Anh.

Thứ tư là kì thị tên họ. Đôi khi tên họ cũng là một “định mệnh” trong khoa học. Nói một cách ngắn gọn, có bằng chứng cho thấy công trình của những tác giả với tên “lạ” (như Nguyen, Tran chẳng hạn) hay những tên có gốc Do Thái, Hà Lan, v.v. có chỉ số trích dẫn thấp hơn những tác giả với những tên “quen thuộc”. Quen thuộc ở đây có nghĩa là tên họ có âm hưởng gốc Anh, Mĩ. Theo Giáo sư P. Doevendans (Neth Heart J, 2011) thì tác giả với tên ít phổ biến bị thiệt thòi về trích dẫn đến 20% so với những tác giả với tên phổ biến. Một phân tích rất thú vị của Greenwald và Schuh (European Journal of Social Psychology, 1994) cho thấy bài báo của tác giả không có họ Do Thái có chỉ số trích dẫn cao hơn khoảng 36 đến 50% so với bài báo của tác giả với họ Do Thái!

Tóm lại, kì thị trong khoa học là tình trạng có thật. Khoa học chỉ là một hoạt động xã hội, và kì thị là một đặc điểm của xã hội, thì sự tồn tại kì thị trong khoa học có lẽ cũng không đáng ngạc nhiên. Những hình thức kì thị trên đây có lẽ chưa đủ (vì chưa xét đến kì thị giới tính), nhưng cũng đủ để cho những ai mới bước vào khoa học nhận thức được vấn đề. Nhận thức để sống chung, chứ không thể nào tránh khỏi được. Nhưng bài học rất quan trọng trong sự kì thị trong khoa học / học thuật là một tác giả không thể nào xuất hiện một cách đột ngột, mà phải qua một quá trình tôi luyện cùng bậc thầy trước khi trở thành độc lập. Điều này cũng nói lên một thực tế là hoạt động khoa học cần tổ chức theo từng nhóm nhỏ chứ không nên tập trung thành một viện, vì làm việc theo nhóm nhỏ là môi trường phát triển tốt nhất và ít kì thị nhất.

 


Tin liên quan:
Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Lần cập nhật cuối lúc Thứ tư, 10 Tháng 10 2012 06:00 Read : 4785 times
 
© Nguyễn Văn Tuấn | Powered by Joomla! | Designed by NDN | Hosted by Michael Hung
Lưu ý: Xem trang web tốt nhất bằng trình duyệt Firefox
Home Khoa học Khoa học Kì thị trong học thuật và khoa học