| Kì thị trong học thuật và khoa học |
|
|
|
Thứ nhất là tác giả mới xuất hiện. Tôi thường hay nói đùa rằng tác giả khoa học có thể ví von với ca nhạc sĩ. Những nghệ sĩ thành danh như Mỹ Tâm, Đàm Vĩnh Hưng, Phương Thanh, v.v. khi ra tác phẩm mới thường dễ thu hút khán giả thưởng ngoạn hơn là những ca sĩ mới vào nghề. Do đó, chiến lược của các ca sĩ mới là hát chung hay ra đĩa nhạc chung với những ca sĩ danh tiếng trước. Sau vài tác phẩm hợp tác như thế (thật ra là họ đỡ đầu) thì ca sĩ mới có thể ra tác phẩm độc lập. Trong khoa học cũng giống như vậy. Một cá nhân chưa bao giờ công bố công trình nào thì rất khó được đồng nghiệp trong ngành công nhận. Họ phải làm trong một lab có tiếng và cùng đồng nghiệp trong lab công bố vài bài trước khi trở thành độc lập. Một cách khác là hợp tác với những nhà khoa học đã thành danh và công bố chung với họ vài công trình để đồng nghiệp quốc tế biết mình đến từ đâu, trường phái nào. Nói cách khác, phải tham gia bộ lạc của họ trước khi trở thành một tác giả độc lập. Tên tuổi có khi rất quan trọng. Chuyện kể ra thì hơi khó tin nhưng có thật. Một lần, anh đồng nghiệp người Thái sang nhóm tôi làm postdoc, anh ấy viết một bài báo với sự hỗ trợ của tôi nhưng tôi không muốn đứng tên. Anh nộp bài đó cho một tập san, nhưng chỉ một tuần sau thì bị trả về với một lời lẽ từ chối rất lịch sự. Chúng tôi “ngâm” bài báo khoảng 6 tháng, có chỉnh sửa đôi chút, và nộp lại cho tập san đó. Chỉ khác một điều là lần nộp này tôi và sếp tôi cùng đứng tên đồng tác giả. Bài báo được gửi đi bình duyệt và sau này được chấp nhận cho công bố. Đó là bài học đầu tiên mà tôi học được về tầm ảnh hưởng của tên tuổi! Trước đây, phản ứng trước tình trạng công bố quốc tế của Việt Nam còn thấp, có người nói rằng chỉ cần dịch những bài tiếng Việt sang tiếng Anh là “họ đăng tất”. “Họ” ở đây là những tập san khoa học có bình duyệt (peer reviewed journals). Nhưng hình như người phát biểu ý đó không biết rằng đối với các tập san này, không phải gửi bài là họ công bố, vì còn phải qua bình duyệt. Đối với những tập san này, bị từ chối là qui luật chứ không phải là điều gì đáng ngạc nhiên. Ngoài ra, như tôi đề cập trên, một tác giả chưa có tên tuổi trong chuyên ngành thì rất khó có cơ hội xuất hiện một cách độc lập được. Ông bà ta có câu không thầy đố mày làm nên thật lá chí lí. Thứ hai là quốc tịch hay nơi làm nghiên cứu. Những nghiên cứu từ Á châu thường bị từ chối công bố, nhưng tỉ lệ từ chối dao động lớn giữa các nước. Trong một phân tích của tập san Am J Roentgen, các tác giả chỉ ra rằng tỉ lệ từ chối công bố của tập san là 34%, nhưng các nước nói tiếng Anh có tỉ lệ từ chối thấp hơn các nước không nói tiếng Anh. Các nước Á châu thường có tỉ lệ từ chối cao hơn Mĩ. Chẳng hạn như gần 55% bài báo từ Đài Loan, 42% bài từ China, 73% bài báo từ Ấn Độ bị từ chối công bố. Tỉ lệ từ chối công bố của tập san American Journal of Roentgenology
Nguồn: Ehara S, Takahashi K. Am J Roentgen 2007;188:W113-6
Dĩ nhiên, những số liệu trong bảng trên chưa đủ chứng cứ để nói rằng có kì thị trong công bố khoa học. Trong thực tế, nghiên cứu từ các nước “nghèo” thường thuộc loại “me too” (tức bắt chước người khác, không có cái mới), và phạm rất nhiều sai sót về phương pháp, nên thường có tỉ lệ từ chối cao hơn các nước tiên tiến. Nhưng điều đó không thể giải thích được tại sao ngay cả Úc và Nhật (những nước có nền y học tiên tiến) mà tỉ lệ từ chối cũng lên đến 45%! Chỉ có thể giải thích rằng có sự kì thị ngầm, kì thị bất thành văn. Thật ra, trong giới y khoa, ai cũng biết một số người trong giới y khoa Mĩ rất ngạo mạn, họ nghĩ [một cách ấu trĩ] rằng họ thông minh nhất, tiến bộ nhất, làm nghiên cứu hay nhất, còn các nước khác thì chỉ là bắt chước mà thôi. Trong giới khoa học còn có câu “cái gì chưa được làm ở Mĩ thì coi như là thế giới chưa làm”. Nói cách khác, một số nhà khoa học hẹp hòi và đố kị ở Mĩ không thích đồng nghiệp ngoài Mĩ làm trước họ, và nếu ai làm trước họ thì họ tìm mọi cách không cho xuất hiện trên giấy trắng mực đen của tập san Mĩ. Trong giới khoa học còn có “truyền thuyết” rằng người Mĩ chỉ thích nghe đồng nghiệp quốc tế nói, nhưng không muốn đọc những gì đồng nghiệp quốc tế in. Truyền thuyết này hàm ý nói rằng họ chào đón đồng nghiệp quốc tế đến Mĩ tham dự và trình bày trong hội nghị, nhưng đến khi công bố trên tập san thì là một … chuyện khác. Tôi thấy có khi cái chủ nghĩa dân tộc có khi làm cho một số người Mĩ trở nên hẹp hòi. Xin nói là “một số” thôi, chứ đại đa số thì rất đàng hoàng và rộng lượng. Có lần tôi chứng kiến một chuyện không mấy hay ho trong một buổi họp cuối năm của ban biên tập một tập san mà tôi là thành viên. Trong buổi họp đó, nhà xuất bản trình bày số bài báo nhận trong năm, số bài bị từ chối, lí do từ chối, v.v. Một thành viên ban biên tập đứng lên hỏi một cách gay gắt rằng tại sao bài báo của anh ta bị từ chối, và anh nhấn mạnh rằng đó là công trình do NIH tài trợ và tập san này là tập san của Mĩ. Anh ấy hàm ý chất vấn tại sao một tập san Mĩ lại từ chối một công trình do chính phủ Mĩ tài trợ. Tôi thán phục anh tổng biên tập khi anh ấy thản nhiên nói: bài dở thì bị từ chối thôi, chứ tập san này không phân biệt bài báo xuất phát từ đâu. Nhưng câu hỏi của anh đồng nghiệp làm tôi suy nghĩ: nếu anh này một ngày nào đó làm phó biên tập hay tổng biên tập (tức ở vị trí quyết định “số phận” của bài báo) thì chắc chắn sẽ có thiên vị trong việc quyết định chấp nhận hay từ chối bài báo, và gây ảnh hưởng đến sự nghiệp của nhiều người. Thứ ba là chủng tộc. Có lẽ hơi khó tin nhưng trong thực tế, kì thị chủng tộc vẫn tồn tại trong khoa học. Nói chung, trong y khoa, rất ít tác giả da đen; phần lớn là người Âu Mĩ (da trắng), và kế đến là Á châu. Mấy năm gần đây thì các nhà nghiên cứu gốc Nam Mĩ cũng bắt đầu xuất hiện thường xuyên hơn. Trong một phân tích đề cương xin tài trợ (của NIH, Mĩ) của trên 40,000 nhà nghiên cứu, từ năm 2000 đến 2006, các nhà nghiên cứu phát hiện một xu hướng đáng ngại: nhà khoa học da đen (gốc Phi châu) có xác suất thành công chỉ 17%, so với người châu Á (26-29%). Sự khác biệt trên vẫn tồn tại ngay cả sau khi điều chỉnh cho trình độ học vấn, năm nghiên cứu sau tiến sĩ, và thành tích khoa học. Một nghiên cứu khác của các nhà nghiên cứu MIT và ĐH Chicago công bố vào năm 2003 cho thấy lí lịch của người da trắng có xác suất được phỏng vấn cao hơn khoảng 50% so với lí lịch của người da đen, cho dù cả hai có cùng trình độ học vấn và kinh nghiệm. Một hình thức tung hoả mù khác cũng có thể xảy ra khi tác giả là người không nói tiếng Anh như tiếng mẹ đẻ. Một vài tuần trước đây khi một bài báo của các đồng nghiệp Việt Nam được gửi cho một tập san loãng xương (và tôi là một đồng tác giả), một chuyên gia bình duyệt (reviewer) phê bình rằng có vài chỗ viết sai tiếng Anh. Nhưng trong thực tế thì không có chỗ nào sai tiếng Anh cả. Cách đây vài năm cũng có một trường hợp tương tự, khi bài báo gồm toàn các tác giả tên VN (và tôi cũng là đồng tác giả và có biên tập bài này) gửi cho một tập san loãng xương ở Mĩ, có một chuyên gia viết một cách ỡm ờ rằng bài báo có vấn đề về tiếng Anh và cần phải viết lại, nhưng không chỉ ra bất cứ một "vấn đề" nào. Tôi không dám nói rằng bài báo đúng về tiếng Anh 100%, nhưng xác suất đúng 100% thì rất rất cao, nên với tư cách là thành viên ban biên tập có phản đối rằng kiểu phê bình như thế là nguỵ biện (kiểu tung hoả mù chung chung, rất vô văn hoá) và đề nghị không nên cho chuyên gia này tham gia bình duyệt trong tương lai. Tất cả những trường hợp này xảy ra chỉ vì tác giả có tên "lạ", nên một cách mặc định là họ dốt tiếng Anh. Đó cũng là một cách doạ những ai chưa am hiểu tiếng Anh. Thứ tư là kì thị tên họ. Đôi khi tên họ cũng là một “định mệnh” trong khoa học. Nói một cách ngắn gọn, có bằng chứng cho thấy công trình của những tác giả với tên “lạ” (như Nguyen, Tran chẳng hạn) hay những tên có gốc Do Thái, Hà Lan, v.v. có chỉ số trích dẫn thấp hơn những tác giả với những tên “quen thuộc”. Quen thuộc ở đây có nghĩa là tên họ có âm hưởng gốc Anh, Mĩ. Theo Giáo sư P. Doevendans (Neth Heart J, 2011) thì tác giả với tên ít phổ biến bị thiệt thòi về trích dẫn đến 20% so với những tác giả với tên phổ biến. Một phân tích rất thú vị của Greenwald và Schuh (European Journal of Social Psychology, 1994) cho thấy bài báo của tác giả không có họ Do Thái có chỉ số trích dẫn cao hơn khoảng 36 đến 50% so với bài báo của tác giả với họ Do Thái! Tóm lại, kì thị trong khoa học là tình trạng có thật. Khoa học chỉ là một hoạt động xã hội, và kì thị là một đặc điểm của xã hội, thì sự tồn tại kì thị trong khoa học có lẽ cũng không đáng ngạc nhiên. Những hình thức kì thị trên đây có lẽ chưa đủ (vì chưa xét đến kì thị giới tính), nhưng cũng đủ để cho những ai mới bước vào khoa học nhận thức được vấn đề. Nhận thức để sống chung, chứ không thể nào tránh khỏi được. Nhưng bài học rất quan trọng trong sự kì thị trong khoa học / học thuật là một tác giả không thể nào xuất hiện một cách đột ngột, mà phải qua một quá trình tôi luyện cùng bậc thầy trước khi trở thành độc lập. Điều này cũng nói lên một thực tế là hoạt động khoa học cần tổ chức theo từng nhóm nhỏ chứ không nên tập trung thành một viện, vì làm việc theo nhóm nhỏ là môi trường phát triển tốt nhất và ít kì thị nhất.
Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:
|
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| Lần cập nhật cuối lúc Thứ tư, 10 Tháng 10 2012 06:00 Read : 4785 times |
Google
Facebook
Twitter
del.icio.us
Blogger
Rain Concert 


