Home Khoa học Khoa học Khoa học: nên bình tĩnh nhìn vào dữ liệu khách quan

Tìm thông tin

Gắn bài

Khách ghé thăm

Hiện có 78 khách trực tuyến

Lượt đọc (từ 16/05/10)

: 8331558


Theme by:





Kindly supported by:
Michael Hung Productions




Khoa học: nên bình tĩnh nhìn vào dữ liệu khách quan In Email

http://chronicle.com/blogs/worldwise/files/2012/07/Metre_pliant_500px.pngBáo Tia Sáng mới đăng một bài gây ra vài bình luận trong một diễn đàn khoa học và giáo dục. Bài đó có một số nhận xét liên quan đến những bài viết của tôi và vài bạn khác từng viết cho Tia Sáng, mà bài báo đề cập đến là “họ”. Tôi muốn nhân cơ hội để bàn thêm vài điều liên quan đến những dữ liệu về công bố quốc tế, tiêu chuẩn đánh giá nhà khoa học, và qui định về tài trợ.

 

Bài báo “Nên tỉnh táo và khách quan có đoạn viết (và có phần được tô đậm trong bài báo như để nhấn mạnh):

Tuy nhiên, các nhà quản lý cũng nên tỉnh táo nhận định đúng mực tình hình, không nên bảo thủ, nhưng cũng đừng quá bận tâm một số thông tin thiếu cơ sở, thường dựa trên phân tích những bảng thống kê không đủ tin cậy mà không có điều tra nghiên cứu thận trọng. Chẳng hạn, những khẳng định như ‘tổng số công bố quốc tế của VN không bằng của riêng Đại học Chulalongkorn’ hoặc ‘trước 2011 toán học của Thái Lan kém VN, nhưng năm 2011 Thái Lan đã vượt VN’, ‘gần 45% những bài báo toán học của VN chưa bao giờ được trích dẫn’, ‘trong số bài của ngành toán VN được trích dẫn gần 40% là tự trích dẫn, tỉ lệ này cao nhất thế giới’, ‘sinh viên VN có học bổng muốn học thống kê, Mỹ gửi sang Thái Lan học’, vân vân, những thông tin loại như vậy theo tôi chẳng giúp được gì mà tính xác thực lại rất đáng ngờ.”

Thật ra, một số lớn những phát biểu trên là của tôi. Tuy bài báo nói là “đáng ngờ”, nhưng không giải thích thế nào là đáng ngờ. Nguồn gốc của những dữ liệu này đã được chú thích [1] trong hai bài đã công bố trước đây (năm 2005 hay 2006) trên Thời báo Kinh tế Sài GònTia Sáng, với tôi và Nguyễn Đình Nguyên là tác giả. Nếu đọc 2 bài báo đó (không còn trên mạng) thì có lẽ sẽ không có “đáng ngờ” về nguồn gốc của dữ liệu. Nhân đây, tôi thử làm một vài phân tích nhanh để xem tình hình vài năm gần đây ra sao. Tôi sẽ không bàn đến những nhận xét mà tôi nghĩ rất khó nói một cách nghiêm chỉnh [2], nhưng sẽ trình bày các dữ liệu liên quan đến những bình luận vừa trích dẫn trên.

Số công bố quốc tế giữa VN và ĐH Chulalongkorn

Tổng số bài báo khoa học của Việt Nam trên các tập san ISI có năm không bằng số bài báo của ĐH Chulalongkorn. Chẳng hạn như trong bài viết trên Tia Sáng năm 2008, Gs Phạm Duy Hiển chỉ ra rằng trong năm 2004, ĐH Chulalongkorn công bố được 416 bài, ĐH Mahidol 465 bài, còn tổng số bài từ Việt Nam là 403 bài.

Tuy nhiên, trong những năm gần đây, thì tình hình có phần cải tiến. Chúng ta thử xem qua vài số liệu trong Web of Science của ISI trong năm 5 năm qua (tính từ 1/1/2008 đến 31/12/2012) cho tương đối ổn định. Trong 5 năm qua, Việt Nam công bố được 6369 bài báo khoa học, bằng ~24% của Thái Lan (26114 bài), 22% của Mã Lai (28509). Trong cùng thời gian, ĐH Chulalongkorn công bố 5232 bài, ĐH Mahidol công bố 5111 bài, ĐH Malaya 7083 bài.

Số bài báo toán học của Việt Nam, Thái Lan, và Mã Lai

Năm 2011, theo cơ sở dữ liệu của ISI, Việt Nam công bố 189 bài báo toán học (research area = “mathematics”). Trong cùng thời gian, Thái Lan công bố 200 bài (trên tổng số 5788) và Mã Lai công bố 213 bài về toán học (trên tổng số 7744 bài).

Số liệu năm 2012 cho thấy số bài báo toán học của Thái Lan (230 bài) và Mã Lai (238 bài) cũng cao hơn Việt Nam (204 bài). Cần nói thêm rằng trong năm 2012, Singapore công bố 340 bài về toán học. Dĩ nhiên, những con số này không có nghĩa là nền toán học VN thấp hơn Thái Lan [3].

Chúng ta có thể xem thêm chi tiết trong những bảng số liệu trích trực tiếp từ ISI (năm 2012) như sau:

Việt Nam:

Thái Lan:

Mã Lai:

Singapore:

 

Về trích dẫn

Trích dẫn đòi hỏi thời gian, và ngành toán thì thời gian tương đối dài hơn các ngành khác. Chúng ta có thể xem tần số trích dẫn trong thời gian 1990 – 2012 để biết xu hướng trích dẫn trong ngành toán. Trong thời gian 23 năm đó, Việt Nam công bố 1800 bài báo toán học trên các tập san ISI. Dữ liệu về trích dẫn của Web of Science có thể xem qua kết quả sau đây:

 

Tính trung bình mỗi bài báo toán học VN được trích dẫn 4.23 lần trong thời gian 23 năm. Có 31 bài được trích dẫn ít nhất 31 lần trở lên. Biểu đồ trên cũng cho thấy tỉ lệ tự trích dẫn là 31%. Nhưng nếu tải toàn bộ 1800 bài về và phân tích thì cho thấy phân bố của tần số trích dẫn như sau:

 

Số lần trích dẫn trong 23 năm

Số bài báo

Phần trăm

0 (chưa được trích dẫn)

758

42.1

1

227

12.6

2-5

395

21.9

6-10

147

8.2

11-20

157

8.7

21+

116

6.4

Tổng số

1800

100

 

Chú ý có 42% những bài chưa được trích dẫn trong 23 năm. Tuy nhiên, con số này tính cả những bài công bố năm 2012. Nếu chỉ tính những bài công bố trên 10 năm (1990-2000) thì tần số chưa bao giờ trích dẫn là 25% (117/467).

Trước đây, tôi có phân tích về tần số tự trích dẫn từ 2007 đến 2011, và kết quả trình bày ở đây. Chúng ta có thể thăm lại dữ liệu về trích dẫn giữa vài nước ASEAN trong thời gian 5 năm qua (2008-2012) để biết có gì thay đổi. Để tiện so sánh, tôi cũng trình bày số liệu của Úc và Hàn Quốc.

Số bài báo toán học và chỉ số trích dẫn trong thời gian 2008-2012

Nước

Số bài báo toán học 2008-2012

Tổng số lần trích dẫn

Tỉ lệ tự trích dẫn (%)

Tần số trích dẫn trung bình

Chỉ số H

Việt Nam

882

1647

38

1.87

15

Thái Lan

784

1680

44

2.14

16

Mã Lai

839

1962

27

2.34

19

Hàn Quốc

5726

8049

18

2.02

29

Úc

5408

13712

2.7

2.54

32

 

 

Thế nào là nhà khoa học “tầm cỡ”?

Theo SCImago, trong số 236 nước có dữ liệu để phân tích (họ dựa vào cơ sở dữ liệu Scopus), thì VN đứng hạng 68, Thái Lan 42, Mã Lai 43, Singapore 32. Riêng ngành toán, SCImago xếp VN hạng 56/183, Thái Lan 53/183, Mã Lai 49/183, và Singapore 33/183. Còn ngành y, SCImago xếp hạng VN ở 70 trên 224 nước, Thái Lan 36, Mã Lai 46, Nam Dương 68, Phi Luật Tân 71, và Singapore 35.

Có ý kiến cho rằng Thái Lan, Mã Lai và Singapore tuy xếp hạng cao hơn VN, nhưng họ không có nhà khoa học tầm cỡ, nhà toán học tầm cỡ. Nhưng thế nào là “nhà khoa học tầm cỡ”, có lẽ hiểu theo nghĩa tầm cỡ quốc tế - world class scientists? Trong thực tế, rất khó nói ai là tầm cỡ hay đẳng cấp quốc tế, vì đánh giá này đòi hỏi dữ liệu liên quan đến thành tích khoa học của cá nhân và đánh giá định tính của đồng nghiệp (peer assessment). Nếu tôi nói với các bạn ba nhà khoa học:

  • DRC công bố 203 công trình (và sách) với tổng số trích dẫn 57,452 lần;
  • GL với 46 công trình và 772 trích dẫn; và
  • XH với 172 công trình, và 452 trích dẫn.

Nếu nhìn vào những con số trên, có lẽ DRC là nhà khoa học tầm cỡ (và điều này đúng). So với DRC, GL có lẽ không phải “tầm cỡ”, nhưng người trong ngành biết rằng ông GL cũng thuộc vào nhóm world class scientists. Riêng ông XH tuy có nhiều công bố, nhưng tần số trích dẫn còn thấp (tức tầm ảnh hưởng chưa cao), rất khó xem là world class.

Trong thực tế, người ta đánh giá “tầm cỡ” còn qua các chỉ tiêu khác. Được mời làm plenary lecture trong các hội nghị lớn, được mời viết tổng quan trên các tập san lớn, hoặc có giải thưởng lớn, v.v. cũng là những chỉ số quan trọng. Rất khó nói là tầm cỡ nếu cá nhân nhà khoa học chưa bao giờ được mới giảng plenary lecture trong các hội nghị khoa học quốc tế.

Do đó, người cùng ngành có thế mạnh là đánh giá đáng tin cậy. Đáng tin cậy nhưng chưa chắc chính xác, vì ý kiến có thể chủ quan. Thật vậy, cái khiếm khuyết trong cách đánh giá “định tính” này là ý kiến của đồng nghiệp là tuy quan trọng nhưng thường mang tính chủ quan. Đồng nghiệp trong ngành và có quen biết nhau thường ca ngợi, tâng bốc nhau. Cái gọi là “đánh giá định tính” bao gồm những gì? Theo kinh nghiệm của tôi, nói là định tính nhưng thật ra cũng mang tính định lượng. Chúng ta thử xem qua các tiêu chuẩn cho một nhà khoa học hay giáo sư loại elite như sau (đây là tiêu chuẩn rất tiêu biểu):

Performance criteria

1. Research excellence (xuất sắc trong nghiên cứu)

(a) Tầm nhìn khoa học: Innovative and potentially transformative research vision in line with the Institute’s objectives that aim to advance the conceptual understanding of human biology and disease, and/or have high impact in applied medicine and healthcare.

(b) Công bố quốc tế: A strong publication record, relative to career stage, with citation evidence.

(c) Sự công nhận của đồng nghiệp: Recognition by peers for research achievement and leadership, as evidenced by: National and international awards and prizesl invitations to give plenary lectures and/or invited presentations at internationak and national meetings

(d) Thành công trong xin tài trợ: Success in obtaining national and internationak research support, including: fellowship, project grant, major infrstructure grant, others.

(e) Thành công trong xin tài trợ từ kĩ nghệ: Attraction of industry support.

(f) Hợp tác: Evidence of significant collaborative interactions/involvement in international and national consortia in scientific arenas.

(g) Chính sách công: Involvement in the development of national and international research and/or medical policy.

2. Research supervision and mentorship

(a) Hướng dẫn nghiên cứu sinh PhD: Involvement in primary supervision, effective mentoring and successful completions of PhD students.

(b) Hướng dẫn hậu tiến sĩ: Effective supervision and mentorship of postdoc fellows, demonstrated by first author high quality publications, invitation to national and international conferences.

(c) Hướng dẫn sinh viên cấp cử nhân danh dự: Involvement in undergraduate research training through supervision of honours students.

(d) Quản lí: Completed managerial functions necessary to support the team, eg planning, budgets, salary forecasting, performance and personnel management and resource allocation.

3. University, school, sector, and community contributions

(a) Đóng góp cho sự phát triển của trường: Involvement in the realisation of the University’s overall aspirations and development of research, as a member of the Faculty through committee work.

(b) Đóng góp cho sự phát triển của khoa: Contributions to the School and hospital precinct community, through joint appointment and active engagement.

(c) Đóng góp cho các hiệp hội chuyên ngành: Contributions to the scientific community (review committee, editorship of journals, and organisation of national & international conferences).

(d) Đóng góp cho cộng đồng: Contributions to the general community through media interviews, talk to professional group, Open days activities.

 

Nhìn qua bảng tiêu chuẩn trên, dễ dàng thấy nhiều chỉ tiêu mang tính định lượng. Phần lớn nhà khoa học, dù là đẳng cấp quốc tế, làm normal science, chứ không phải xuất chúng hay thiên tài như Einstein, nên công bố quốc tế vẫn là tiêu chuẩn quan trọng trong việc đề bạt các chức danh học thuật. Gs Hoàng Tụy trong bài trả lời phỏng vấn báo Lao Động ngày 4/4/2004 cũng có nói: “Theo chuẩn mực quốc tế thông thường trong ngành toán, một GS ở tuổi 30 - 40 thường phải có ít nhất 15 - 20 công trình khoa học công bố ở các tạp chí quốc tế, còn PGS khoảng 10 công trình trở lên.”

 

Bằng sáng chế

Bài báo đưa ra một nhận xét rằng “Trên thế giới không ai lấy số lượng bằng sáng chế làm thước đo năng lực của một nhà khoa học”. Tôi khẳng định là CÓ. Bằng sáng chế là một thành tựu rất đáng kể, không chỉ nó đem lại thu nhập cho nhà khoa học mà còn là một thước đo về tính sáng tạo của một quốc gia. Rất nhiều đại học trên thế giới dùng số bằng sáng chế như là một trong những tiêu chuẩn để đánh giá nhà khoa học và tiêu chuẩn đề bạt. Chẳng hạn như Đại học New South Wales có chính sách ghi rõ những tiêu chuẩn đề bạt là:

  • Papers, notes, communications, reviews, etc in refereed journals or other publications of eminence in the discipline (bài báo khoa học, tổng quan, bình luận, xã luận, v.v. hay các công bố khác trên các tập san danh tiếng trong ngành);
  • Refereed published conference or symposium papers (những bài báo trong hội nghị có bình duyệt);
  • Books (sách)
  • Chapters in books (chương sách)
  • Any other published work (các công trình khác đã công bố);
  • Patents (bằng sáng chế)
  • State, national and international government reports (các báo cáo cấp quốc gia và quốc tế);
  • Other (including university) reports (các báo cáo do đại học ủy nhiệm);
  • Unpublished conference papers or other public presentations such as workshops or seminars (các bài báo hay tóm lược không công bố hay những bài nói chuyện trong các seminar và lớp tập huấn).

 

Tôi lục lại hồ sơ phong chức danh giáo sư của UQ thì cũng thấy những tiêu chí sau đây mà ứng viên phải viết ra hay giải trình:

  • Research output (tức là số bài báo khoa học công bố), và họ chỉ quan tâm 6 bài tốt nhất;
  • Patent, creative work, refereed design (bằng sáng chế, công trình sáng tạo, thiết kế có bình duyệt);
  • Other “research output” which takes into account the practices of the discipline concerned (các đầu ra khác);
  • Research income (thành tích xin tài trợ từ các cơ quan quốc gia và quốc tế);
  • Research and supervision (giải thưởng và hướng dẫn nghiên cứu sinh);
  • Contribution to profession (đóng góp cho chuyên ngành);
  • Contribution to community (đóng góp cho cộng đồng).

Danh sách trên một lần nữa cho thấy bằng sáng chế là một tiêu chí trong việc xem xét đề bạt chức danh giáo sư.

Nói rằng bằng sáng chế chỉ áp dụng cho kĩ thuật và công nghệ thì tôi e rằng không đúng.  Trong nghiên cứu cơ bản cũng có thể đăng kí bằng sáng chế.  Một phát hiện gene cũng có thể đăng kí bằng sáng chế; cách thức tìm sequence trong gene cũng có thể đăng kí bằng sáng chế; phát triển một mô hình tiên lượng cũng có thể đăng kí bằng sáng chế. Nhà nước xem tài trợ cho khoa học là đầu tư, mà đã là đầu tư thì phải có hiệu suất.  Một trong những hình thức của hiệu suất là bằng sáng chế.  Nói rằng phải cần đến 50 năm mới có ứng dụng, vì đến đó thì chẳng ai đánh giá được.  Nên nhớ rằng chỉ 5% trong các công trình có triển vọng cao trên các tập san hàng đầu là dẫn đến ứng dụng, và chỉ có ~1% là đưa vào ứng dụng lâm sàng [4].  Những nước giàu có thì sẵn sàng chi cho những nghiên cứu chỉ thuần tuý sản sinh tri thức mà có thể không có ứng dụng, nhưng trong điều kiện kinh tế khó khăn và nước còn nghèo thì Nhà nước có quyền đòi hỏi hiệu suất. Đó chính là lí do có định hướng translational research (hiểu nôm na là nghiên cứu định hướng ứng dụng) ngày nay.

Tài trợ cho đi dự hội nghị?

Bài báo còn có vài ý kiến khác cũng đáng bàn thêm. Chẳng hạn như ý kiến “… tác giả dẫn chứng ở một nước giàu như Úc mà kinh phí tài trợ nghiên cứu không được phép chi cho đi dự hội nghị hay trả tiền máy bay để mời chuyên gia nước ngoài về làm seminar.” Xin nói “tác giả” đó là tôi đây. Tôi đã nhận tài trợ khá nhiều từ các cơ quan tài trợ khoa học của Úc, của Mĩ, và tôi đã và đang ngồi trong các hội đồng duyệt đề tài cho NHMRC. Là người chủ trì đề tài và chi tiền, tôi phải biết rõ mình có quyền chi cho cái gì. Đối với NHMRC, hoàn toàn không có một mục nào cho phép nhà nghiên cứu dùng tiền được tài trợ để đi dự hội nghị, càng không có chuyện có khoản tiền để mời chuyên gia ngoài về làm seminar [5].

Tuy nhiên, những khoản tiền đó (dự hội nghị, mời khách quốc tế) có thể xin ở nguồn khác, hay một chương trình tài trợ khác, nhưng cũng rất khó. Nếu không xin được ở một nguồn khác thì trung tâm nghiên cứu hay đại học có thể trích từ “quĩ hỗ trợ” để cung cấp kinh phí.

 

Dữ liệu đáng quan tâm?

Sẵn đây, tôi cũng muốn nói lại vài ý kiến mà tôi đã từng phát biểu trước đây. Cơ sở dữ liệu của ISI có thể chưa đầy đủ (vì họ cập nhật rất thường xuyên), nhưng qui luật số lớn cũng đủ để các cơ quan quốc tế dựa vào đó mà phân tích. Đó có lẽ là cơ sở dữ liệu tốt nhất, và tất cả các nước trên thế giới đều dựa vào để đánh giá tình hình hoạt động khoa học. Tất cả những phân tích trên dựa vào cơ sở dữ liệu của ISI (mà tôi và các tác giả khác đã ghi rõ). Nếu cho rằng cơ sở dữ liệu của ISI đáng ngờ thì tôi nghĩ nên báo ngay cho ISI để họ chỉnh sửa, vì cả thế giới đang sử dụng cơ sở dữ liệu này. Nếu ISI đáng ngờ thì tôi nghĩ cũng nên báo cho ông David King biết bài báo quan trọng của ông ấy cũng dựa vào ISI để so sánh hoạt động khoa học giữa các quốc gia. Thật ra, có vài phát biểu nổi tiếng trong khoa học và giáo dục ở VN hình như chẳng dựa vào một cơ sở khoa học hay dữ liệu nào cả [6].

Những dữ liệu về công bố quốc tế có đáng quan tâm không? Bất cứ đại học nào hay viện nghiên cứu nào cũng thường xuyên thực hiện đánh giá năng lực. Họ sợ bị “ngủ quên trên chiến thắng”. Họ có thể mời các chuyên gia ngoài đánh giá, nhưng họ cũng có thể nhờ các chuyên gia trong cùng trường đánh giá. Ở Úc, trường ĐH Sydney từng tự hào là số 1, nhưng khi có đánh giá độc lập của những người ngoài đại học thì sự thật phũ phàng bày ra: Sydney đứng sau vài trường khác. Đó là bài học đắt giá của sự tự mãn. Đánh giá và tự đánh giá thường xuyên qua các dữ liệu định lượng là rất cần thiết.

Dĩ nhiên, không ai chỉ dựa vào số bài báo khoa học để đánh giá một nền khoa học. Số bài báo phản ảnh mức độ hoạt động; yếu tố quan trọng hơn là tầm ảnh hưởng của nghiên cứu khoa học. Làm nghiên cứu cho ra sản phẩm tri thức như một bài báo khoa học mà không ai trích dẫn thì đó là một tín hiệu cho thấy hoặc là chất lượng có vấn đề, hoặc là nghiên cứu đó chẳng ai quan tâm, hoặc là nghiên cứu đó quá cao siêu nên không ai hiểu được. Ngoài những tiêu chí trên, người ta còn dựa vào các chỉ số về bằng sáng chế, số nghiên cứu sinh tốt nghiệp PhD, nội lực khoa học, v.v. Cơ sở lí luận và thực tiễn của các tiêu chí này đã được nghiên cứu khá kĩ (có ít nhất 3 tập san khoa học chuyên về lĩnh vực này, còn gọi là scientometrics, bibliometrics). Do đó, không nên xem thường các tiêu chí này. Nếu VN muốn hội nhập quốc tế thì phải chơi theo hay ít ra là biết luật chơi quốc tế; nếu muốn sáng tạo ra tiêu chí cho riêng VN, thì có thể đầu tư tiền tài để phát triển một cách đánh giá khoa học theo trường phái VN.

Tôi nghĩ cần phải tỉnh táo nhìn vào các dữ liệu một cách khách quan, chứ không nên đưa ra những nhận xét hoặc khuyến cáo có phần cảm tính, trịch thượng, và thiếu cơ sở khoa học. Nếu một dữ liệu cho thấy khoa học Việt Nam ở thứ hạng nào đó, chúng ta có thể thấy khó tin và đòi có thêm dữ liệu. Nếu có 2 nguồn dữ liệu cho ra cùng kết quả, chúng ta bắt đầu chú ý. Nếu 3 nguồn dữ liệu đều cho ra một kết quả, chúng ta phải suy nghĩ. Nhưng nếu cả 4 nguồn dữ liệu độc lập đều nói lên một ý, chúng ta phải nghiêm chỉnh xem lại thực tế, chứ không thể bác bỏ được. Trong trường hợp Việt Nam, chúng ta đã thấy số bài báo khoa học, chỉ số trích dẫn, số bằng sáng chế, và bảng xếp hạng đại học đều cho thấy một điều nhất quán: vị thế khoa học của Việt Nam còn kém hơn các nước trong vùng như Thái Lan và Mã Lai, và tụt hậu so với các nước láng giềng. Việt Nam có thể có một số nhà khoa học số 1 trên thế giới, nhưng tôi đoán các nước khác cũng có thể nói như thế. Trong thực tế, số nhà khoa học “tầm cỡ”, quá khứ huy hoàng và những lời khen mang tính xã giao của đồng nghiệp nước ngoài không nâng cao được vị thế của khoa học Việt Nam ngày hôm nay.

N.V.T

 

Chú thích:

[1] Trong hai bài báo đó, chúng tôi có ghi chú thích như sau: “Chúng tôi sử dụng cơ sở dữ liệu (database) của công ti Thomson Scientific Information (trước đây có tên là Institute of Scientific Information hay ISI).   Cơ sở dữ liệu của ISI bao gồm SCI-Expanded, SSCI, và A&HCI. Công cụ để thu thập thông tin là phần mềm Web of Science thuộc hệ thống ISI Web of Knowledge v3.0, với từ khoá mã nước là “Vietnam” OR “Viet Nam”, “Indonesia”, “Malaysia”, “Philippines”, “Singapore”. “Thailand”. Trong phân tích này chúng tôi chỉ giới hạn các bài báo nguyên thủy (original contribution), không tính các bài tổng quan (review) và các bản tóm tắt (abstracts) hay bài báo trong hội nghị (conference papers). Ngôn ngữ là tiếng Anh. Thông tin từ tất cả các bài báo khoa học được thu thập từ 1996 đến 2005 (10 năm). Chúng tôi phân nhóm các bài báo khoa học vào 12 lĩnh vực nghiên cứu như sau: y sinh học (kể cả thú y, tâm lí học lâm sàng, dinh dưỡng học, di truyền, sinh hóa), toán học, vật lí học, kĩ thuật, nông nghiệp (kể cả thủy sản, thực phẩm, thực vật học), hóa học, khoa học vật liệu, khoa học môi trường, kinh tế học (kể cả quản lí kinh doanh, kế hoạch và phát triển), công nghệ sinh học, khoa học xã hội, và khoa học đa ngành. Sau khi thu thập thông tin liên quan đến bài báo (như tên tác giả, thể loại, tập san, năm xuất bản, số lần trích dẫn, v.v.) chúng tôi lưu trữ dữ liệu trong một cơ sở dữ liệu và sử dụng ngôn ngữ thống kê R để phân tích dữ liệu.”

[2] Bài báo còn có những so sánh / lí giải cực kì thú vị (như “Tác giả cũng so sánh chi phí xây dựng Viện nghiên cứu cao cấp gấp bao nhiêu lần thu nhập bình quân của một người dân để nói rằng chi phí cho Viện là gánh nặng quá đáng cho dân. Thiết tưởng với lập luận như thế có lẽ VN không nên xây dựng các trường trung học phổ thông, chứ đừng nói đại học hay viện nghiên cứu”). Đọc câu này làm tôi nhớ đến trái táo và trái cam. Cũng có một vài ý kiến trong bài có thể hiểu như là một cách xem thường người đọc ngang hàng với con nít như so sánh bài báo 170 trang với 17 bài báo 10 trang. Với những so sánh và tính toán như thế này, rất khó bàn thêm một cách nghiêm chỉnh.

[3] Tôi nghĩ cần phải phân biệt giữa “nền toán học” và “số bài báo về toán học”, vì cái trước nói đến một tình hình chung khó định lượng, còn cái sau nó đến số bài báo, và số bài báo chỉ phản ảnh một phần của bức tranh chung. Theo tôi, con số bài báo khoa học phản ảnh mức độ hoạt động nghiên cứu (research activity), chứ chưa phản ảnh chất lượng nghiên cứu, càng không phản ảnh đúng một nền toán học. Nhưng không thể bác bỏ sự thật là số bài báo về toán (tức mức độ hoạt động nghiên cứu) của Mã Lai và Thái Lan hiện nay đã cao hơn Việt Nam.

[4] Ioannidis J. et al. Evolution and Translation of Research Findings: From Bench to Where? PloS Clin Trials 2006; 1(7):e36. 

[5] Chẳng hạn như ở đây, có phần hỏi – đáp về tài trợ của NHMRC, và xin trích một câu:

Can we request funding for conference travel?

The NHMRC does not fund national and international conference travel other than for Early Career Fellowship and Scholarship holders.  Funding for travel (survey/field expenses) must be directly related to the research proposed and fully justified in the budget section of your application.”

NHMRC có qui định không cho chủ đề tài xin tài trợ đi dự hội nghị trong phần ngân sách, nhưng có thể xin tài trợ cho những chuyến đi điền dã (xin trích):

Thus, the cost of conference attendance and publications are not to be included as direct research costs in grant application budgets. These costs however, could be direct costs of conducting funded research.

[…]All overseas travel must be formally approved and documented by the Faculty Research Committee (or equivalent in a medical research institution) prior to the travel being undertaken.”

Còn ARC cũng có qui định không tài trợ cho các khách mời quốc tế, và họ nói rõ:

Can a proposal include items such as international airfares for keynotespeakers who are not working directly on the project to attend conferences organised by CIs as part of their project or international airfares for visitors?

No. Requests for international travel can only be submitted for CIs, PIs living overseas and research personnel or collaborators working on the project. It should be noted that the rationale for international travel needs to be well justified in the proposal. Please refer to section 5.2.1.g and section 5.2.4 of the DP12 Funding Rules.”

[6] Nói đến “đáng ngờ”và cơ sở làm tôi nhớ đến những con số nổi tiếng như “1/3 Giáo sư, Phó Giáo sư xứng đáng ‘bị’ miễn nhiệm chức danh(đã rút xuống vài tuần trước) và “VN có bao nhiêu GS, PGS trình độ quốc tế?” của Gs Hoàng Tụy (cũng đã rút xuống mới đây) vì hình như không có dữ liệu nào làm cơ sở. Tuy không có nguồn dữ liệu rõ ràng, nhưng nhiều người đều chấp nhận là đúng. Ngay cả phát biểu “nếu so với chất lượng GS ở các nước phát triển, đúng là phần lớn GS VN không xứng đáng là GS thật, tôi phải nói con số đó không phải là 30% mà là 80%” (vẫn còn trên mạng) của Gs Đỗ Trần Cát cũng là phỏng đoán thôi. Có lẽ dữ liệu không quan trọng ở đây, mà vai vế của người phát biểu mới quan trọng chăng?

 


Tin liên quan:
Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Lần cập nhật cuối lúc Thứ ba, 22 Tháng 1 2013 05:44 Read : 4806 times
 
© Nguyễn Văn Tuấn | Powered by Joomla! | Designed by NDN | Hosted by Michael Hung
Lưu ý: Xem trang web tốt nhất bằng trình duyệt Firefox
Home Khoa học Khoa học Khoa học: nên bình tĩnh nhìn vào dữ liệu khách quan