| Nhìn Hàn Quốc nghĩ về khoa học nước nhà |
|
|
Đọc 2 bài này sẽ thấy Hàn Quốc đặt tiêu chuẩn phong giáo sư càng lúc càng giống các nước phương Tây. Thật vậy, tiêu chuẩn 5 bài với tác giả đầu và 10 bài với vị trí đồng tác giả chẳng kém gì so với các đại học trung bình ở Mĩ và Úc. Nhưng các tiêu chuẩn của Hàn Quốc vẫn còn kém so với các đại học hàng Ivy League bên Mĩ hay hàng G8 của Úc, và điều này thì có thể hiểu được. Đối với một quốc gia “đang lên” như Hàn Quốc thì cần phải có thời gian để xây dựng cơ sở vật chất cho nghiên cứu khoa học.
Theo một phân tích các ứng viên thành công trong việc đề bạt chức danh giáo sư y khoa, ở Đại học Harvard, để đề bạt lên cấp assistant professor, ứng viên phải có trung bình 5 công trình (con số thực tế dao động từ 3 đến 17 công trình; cấp associate professor cần 35 công trình (dao động trong khoảng 24-50 công trình); và cấp professor thì trung bình cần 45 công trình (20 đến 61). Ở khoa y của Đại học Duke, một đại học thuộc loại trung bình hay trên trung bình, assistant professor tối thiểu phải có 3 công trình; associate professor cần có trung bình 25 công trình, với 10 bài là tác giả chính; và cấp professor cần phải có trung bình 50 công trình, với 20 công trình là tác giả chính. Con số công trình khoa học chỉ nói lên năng suất, nhưng xu hướng ngày nay, các hội đồng khoa bảng thường quan tâm đến chất lượng khoa học. Thông thường, hội đồng khoa bảng yêu cầu ứng viên cấp phó giáo sư và giáo sư trình bày 5 hay 10 công trình quan trọng nhất. Chính các công trình này là yếu tố quyết định đề bạt, chứ phần còn lại chỉ để tham khảo như là một chỉ số năng suất khoa học của ứng viên. Những bài “hàng đầu” này thường được đánh giá qua chỉ số trích dẫn, và hệ số ảnh hưởng (impact factor) của tập san. Người làm trong ngành, chỉ cần nghe qua tên tập san mà ứng viên công bố là biết ứng viên thuộc vào hạng nào, giai tầng nào trong ngành. Mấy năm gần đây thì các hội đồng khoa bảng chuyển sang đánh giá thành tựu nhà khoa học dựa vào chỉ số h, mà tôi đã có dịp giới thiệu trên Tia Sáng trước đây (và ở đây). Theo tác giả của chỉ số này (J. Hirsch) thì ai có chỉ số h khoảng 20 sau 20 năm làm nghiên cứu thì có thể xem là một "successful scientist"; còn "outstanding scientist" có chỉ số h 40 sau 20 năm làm việc; và "truly unique individual" có chỉ số h 60 sau 20 năm miệt mài nghiên cứu. Hirsch còn đề nghị một associate professor (phó giáo sư) nên có chỉ số h khoảng 12, và giáo sư thì nên có chỉ số h từ 18 trở lên. Tuy nhiên, vì khác biệt giữa các ngành khoa học, nên chỉ số này vẫn cần phải điều chỉnh thì mới khách quan hơn. Hành trình Hàn Quốc trở thành một cường quốc khoa học như ngày nay khởi đầu từ năm 1967, tức hơn 40 năm về trước. Lúc đó (1967), chính phủ lập ra bộ khoa học và công nghệ, với một sứ mệnh là thu hút cho được kiều bào của họ từ nước ngoài về để lập Viện Khoa học và Công nghệ (Korea Institute of Science and Technology -- KIST). Mãi đến thập niên 1980s, nghiên cứu khoa học mới thật sự bắt đầu, và chỉ “cất cánh” trong thập niên 1990s. Năm 2006, số bài báo khoa học từ Hàn Quốc trên các tập san khoa học quốc tế là 23,286, chiếm 2.1% tổng “sản lượng” khoa học toàn cầu. Với năng suất này, Hàn Quốc ngày nay đứng vào hàng 13 trên thế giới về năng suất khoa học (sau -- theo thứ tự -- Mĩ, Anh, Đức, Nhật, Trung Quốc, Pháp, Canada, Ý, Tây Ban Nha, Úc, Ấn Độ, và Hà Lan). Đó là một thành tích đáng khâm phục! Tuy nhiên, về chất lượng khoa học, thì Hàn Quốc vẫn còn kém xa so với các cường quốc Âu Mĩ. Tần số trích dẫn trung bình (sau 5 năm) chỉ 3.2, vẫn còn kém xa so với 6.5 ở các nước Âu Mĩ. Do đó, tuy năng suất khoa học đứng vào hàng 13, nhưng về chất lượng (qua thước đo chỉ số trích dẫn) thì Hàn Quốc đứng hàng 28 trên thế giới. Tuy kém, nhưng vẫn là một vị trí đáng kính nể. Như đề cập trên, tiêu chuẩn cho chức danh giáo sư của Hàn Quốc tương đương với các nước Âu Mĩ. Vì thế, không ngạc nhiên khi thấy năng suất khoa học của các trường hàng đầu như Seoul National University (SNU) chẳng thua gì so với MIT. Năm 2006, SNU “sản xuất” 3,635 công trình, đứng hạng 32 trong các đại học trên thế giới, chỉ sau MIT (3,728 bài) và Ohio State University (3,674 bài), nhưng cao hơn University of British Columbia (3,519) và Northwestern University (3,328). Nói cách khác, các giáo sư Hàn Quốc bây giờ cũng có công trình chẳng kém các giáo sư quốc tế. Chính phủ Hàn Quốc lúc nào cũng nói rằng sở dĩ khoa học họ thành công như ngày nay là do sự đóng góp to lớn của Hàn kiều trong 3 thập niên qua. Chẳng những Hàn kiều, mà Hàn Quốc còn mở rộng cửa cho các nhà khoa học quốc tịch ngoại quốc vào làm việc trong các đại học và viện nghiên cứu khoa học. Nhìn sang sự tiến bộ của Hàn Quốc, bất cứ ai quan tâm đến Việt Nam cũng đều nhục, ngậm ngùi và “sốt ruột”. Cũng là người Á châu, cũng chịu ảnh hưởng văn hóa Khổng Tử, cũng chịu khó làm việc, cũng ham học, cũng không đến nổi tối dạ, cũng đất nước chia đôi, mà một nước thì thành cường quốc chỉ sau 30 năm phấn đấu, còn một nước thì vẫn nghèo hàng hạng nghèo nhất thế giới sau 40 năm loay hoay. Nhục là vì ngày nay, chúng ta sang đó làm thuê cho họ, còn phụ nữ ta sang đó làm vợ cho họ để rồi có nhiều trường hợp chết thảm. Ngậm ngùi vì nghĩ rằng Việt Nam cũng có cơ hội trở thành như Hàn Quốc ngày nay, nếu như không có chiến tranh và không phạm phải những sai lầm chính sách sau thời chiến. Sốt ruột là vì đáng lẽ giới “Việt kiều” ở ngoài có thể đóng góp nhiều hơn cho khoa học nước nhà, nhưng với cơ chế và tư duy lãnh đạo hiện nay, thì nhiều người đành phải đứng từ xa “trông về quê mẹ ruột đau chín chiều”. NVT TB. Hóa ra bên Nhật họ gọi giáo sư là “tiên sinh”. Chà, tôi thích danh xưng này à. Nói đùa thôi, chứ tôi nghĩ nên gọi tên thân mật hơn. Hay như ở nước ta, gọi “Thầy” hay “Cô” là hay nhất; hai chữ “tiên sinh” nghe Hán quá. Hồi ở bên Mĩ, sinh viên vẫn gọi giáo sư một cách kính cẩn là “Professor”. Đến từ Úc, xứ sở của bình đẳng xã hội, tôi cảm thấy không thoải mái với cách gọi của Mĩ, nhưng riết rồi thành quen. Thật ra, mấy năm sau này ở Úc cũng quay sang gọi như Mĩ. Điển hình là các bác sĩ mới ra trường vẫn gọi chúng tôi là “Professor”. Có lần sếp tôi sửa lưng một cô bác sĩ [đại khái]: mày còn danh xưng nào thân mật hơn để gọi chúng tao không? Chị bác sĩ trẻ đó tỏ ra lúng túng và ngạc nhiên khi bị chỉnh sửa như vậy! :-) Số liệu về khoa học Hàn Quốc tôi trích từ Se Jung-Oh. Academic research in Korea. Nature Materials 2007; 6:707-9. === http://bee.net.vn/channel/1984/201006/Co-15-cong-trinh-quoc-te-moi-duoc-ung-tuyen-GS-DH-1755626/
Có 15 công trình quốc tế mới được ứng tuyển GS ĐH04/06/2010 06:49:06 Tại Hàn Quốc, để xét tuyển một ứng viên vào ngạch GS, thông thường các ứng viên phải có ít nhất 5 năm kinh nghiệm trong nghiên cứu sau TS, ít nhất 5 công trình nghiên cứu đã được công bố quốc tế với tên tác giả đầu tiên và 10 công trình đồng tác giả. 15 công trình công bố quốc tế mới được ứng tuyển GS ĐH Những ứng viên đạt được những tiêu chuẩn trên thì sẽ được mời phỏng vấn trực tiếp tại khoa có sự hiện diện của sinh viên sau đại học, các NCS sau TS, các GS nghiên cứu và các GS giảng dạy và nghiên cứu tại khoa để đánh giá năng lực giảng dạy thông qua báo cáo của họ (Khi được mời các ứng viên đều được tài trợ chi phí đi lại và ăn ở trong thời gian khoảng 3 ngày, cho dù ứng viên ở bất cứ nước nào mà họ đến). Chúng ta thấy quy trình này cũng tương tự như trong ứng cử và bầu cử của Quốc hội. Ứng viên Đại biểu Quốc hội phải đi vận động tranh cử những nơi khác nơi làm việc của mình, có như vậy mới tránh sự thiên vị địa phương và cũng là giai đoạn thử thách của ứng viên. Tại sao trong khoa bảng của Việt Nam chúng ta không làm được như vậy? Khi gặp GS trong trường học thì dù GS có chào hỏi hay không họ cũng phải nhìn về GS và cúi đầu chào rất trân trọng. Ngay cả khi đang hút thuốc lá cũng phải giấu đi để chào GS, và khi được GS mời uống rượu trong tiệc tùng hoặc liên hoan thì phải cầm ly 2 tay và khi uống phải xoay mặt đi không được nhìn đối diện mặt thầy, và quan hệ đối xử này giữa thầy và trò duy trì cho đến ngày nay tại Hàn Quốc (hầu hết NCS sau Đại học tại Hàn Quốc điều được GS tài trợ kinh phí học tập và sinh hoạt). Trong khi đó ở Nhật Bản, những năm gần đây do hầu hết các NCSTS phải đóng học phí để học và do ảnh hưởng nhiều về phương tây nên khoảng cách giữa GS và học viên không lớn lắm như Hàn Quốc. Đến phi trường Incheon, họ hỏi tôi là người Việt Nam sao lại đến từ Nhật Bản? Ai bảo lãnh và sống ở đâu, mấy ngày thì về và nói chung họ có một cái nhìn rất coi thường. Cũng với cuốn hộ chiếu đó (hộ chiếu Việt Nam), nhưng khi tôi đi ra vào Hàn Quốc với visa dành cho GS (E1) thì các nhân viên làm thủ tục xuất nhập cảnh rất nhỏ nhẹ và khi nào cũng trả lại hộ chiếu cho tôi bằng 2 tay (ở Hàn Quốc, chỉ có những GS chuyên ngành mới được cấp visa E1, còn với những GS dạy ngoại ngữ và lịch sử thì được cấp visa E2, và người nghiên cứu là E3). Như vậy tôi càng hiểu thêm, chiếc áo cà sa không làm nên thầy tu và không phải cầm hộ chiếu Việt Nam là bị coi thưòng như một số người đã lầm tưởng, vấn đề chính để mọi người tôn trọng là Anh là ai? Tôi cũng mong rằng học sinh và sinh viên Việt Nam chúng ta cũng như toàn xã hội phải tôn vinh người thầy giáo về cả tinh thần và vật chất. Tuy nhiên trước tiên tự mỗi người thầy phải tự nhìn lại bản thân mình để phấn đấu, và phấn đấu suốt đời thì mới mong nhận được quả ngọt. TS Nguyễn Văn Thuận
http://bee.net.vn/channel/1984/201005/Thieu-cong-trinh-cong-bo-quoc-te-bang-TS-vo-gia-tri-1755186/ Thiếu công trình công bố quốc tế, bằng TS vô giá trị29/05/2010 06:38:47 Đối với các Tiến sĩ (TS) tốt nghiệp mà không có công trình nghiên cứu nào được công bố quốc tế, hầu hết là họ làm những việc bình thường trong các công ty không liên quan đến nghiên cứu khoa học, và cũng chẳng có ai gọi họ là TS. Trong thời gian gần đây, việc công bố các bài báo trong tạp chí quốc tế trở nên khó khăn hơn cho nên một số Khoa và bộ môn giảm xuống đến mức tối thiểu là có một bài báo đã được công bố trên tạp chí quốc tế và một công trình nghiên cứu đang đệ trình để công bố. Như vậy để trở thành một GS thực thụ thì các nhà khoa học phải phấn đấu liên tục trong khoa học khoảng 15-16 năm sau khi đã tốt nghiệp TS (5 năm nghiên cứu sau TS, 4 năm Assistant Professor, 5 năm Associate Professor và 2 năm thử thách Professor), và số công trình nghiên cứu khoa học được công bố trên các tạp chí quốc tế trong chuyên ngành phải trên 50 (khoảng trên 20 bài với tác giả đầu tiên, trên 30 bài với dạng cộng tác viên (Co-author) hoặc chịu trách nhiệm khoa học chính trong bài báo (Correspondence author).
Kỳ tiếp: Trường ĐH Nhật Bản, Hàn Quốc chọn giảng viên như thế nào? TS Nguyễn Văn Thuận Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:
|
|
| Lần cập nhật cuối lúc Thứ năm, 10 Tháng 6 2010 10:08 Read : 6415 times |
Google
Facebook
Twitter
del.icio.us
Blogger
Rain Concert 


Đọc 2 bài này sẽ thấy Hàn Quốc đặt tiêu chuẩn phong giáo sư càng lúc càng giống các nước phương Tây. Thật vậy, tiêu chuẩn 5 bài với tác giả đầu và 10 bài với vị trí đồng tác giả chẳng kém gì so với các đại học trung bình ở Mĩ và Úc. Nhưng các tiêu chuẩn của Hàn Quốc vẫn còn kém so với các đại học hàng Ivy League bên Mĩ hay hàng G8 của Úc, và điều này thì có thể hiểu được. Đối với một quốc gia “đang lên” như Hàn Quốc thì cần phải có thời gian để xây dựng cơ sở vật chất cho nghiên cứu khoa học.