Home Nhân vật - Sự kiện Nhân vật Để nhớ một người thầy: Philip N. Sambrook

Tìm thông tin

Gắn bài

Khách ghé thăm

Hiện có 69 khách trực tuyến

Lượt đọc (từ 16/05/10)

: 8337079


Theme by:





Kindly supported by:
Michael Hung Productions




Để nhớ một người thầy: Philip N. Sambrook In Email
Chủ nhật, 01 Tháng 4 2012 22:38

http://sydney.edu.au/medicine/news/news/2008/Jun/Images/Philip_Sambrook.jpgTối nay tôi nhận được một tin buồn và sốc: Thầy tôi, Giáo sư Philip Neal Sambrook, mới qua đời vào chiều hôm qua, thọ 60 tuổi (1952-2012). Philip (tôi vẫn quen gọi thế) là người thầy, đồng nghiệp, và bạn thân thiết của tôi. Philip còn là một cái “tên lớn” trong thế giới loãng xương trên thế giới. Một phần sự nghiệp của tôi gắn liền với Philip. Dù biết rằng sẽ có ngày Philip sẽ ra đi, nhưng tôi không ngờ anh lại đi sớm như thế.

 

Năm ngoái, khi tôi mời Philip về giảng trong hội nghị loãng xương ở Hội An, anh vui vẻ nhận lời, thế nhưng cuối cùng thì anh không đi được vì ngã bệnh và phải chuẩn bị nhập viện. Bốn năm trước, Philip mắc chứng u sắc tố ở mắt (ocular melanoma), và phải qua giải phẫu cắt bỏ một mắt trái. Lúc đó, Philip đang là chủ tịch Hội loãng xương Úc, và anh tự nguyện rút lui.   Gặp Philip ở hội nghị, tôi hỏi sức khoẻ dạo này ra sao, anh vui vẻ nói tao vẫn còn sống mà. Tôi cũng tin là anh vẫn sống. Một con người tài hoa như thế đáng có mặt đời lắm chứ. Thế mà năm ngoái anh ngã bệnh và không đi Việt Nam được. Căn bệnh quái ác di căn đến gan và xương, và cuối cùng anh phải chịu thua trước bệnh tật. Và, đến hôm nay thì anh đã ra người thiên cổ. Dù biết rằng Philip sẽ ra đi một ngày nào đó, nhưng tôi không ngờ ngày đó là hôm qua. Tôi thường hay dẫn lời của Trịnh Công Sơn vắng một người, thế giới trở nên hoang vu. Đối với tôi, vắng Philip cũng có nghĩa là cõi sự nghiệp của tôi trở nên hoang vu hơn.

Philip từng là một người thầy của tôi. Dạo đó, anh là một supervisor (tức là một người hướng dẫn luận án của tôi). Thật ra là có đến 3 người giáo sư (Giáo sư John Eisman, Richard Heller, và Philip Sambrook), nhưng Philip mới chính là người “cầm tay chỉ việc” cho tôi, còn hai người kia thì rất bận, lâu lắm mới gặp họ một vài phút. Chính Philip là người dạy tôi cách chẩn đoán gãy xương đốt sống (lúc đó còn gọi là vertebral deformity chứ không phải vertebral fracture như ngày nay). Anh dạy tôi cách phân biệt những osteophytosis và ảnh hưởng đến mật độ xương như thế nào. Tôi phải đọc hàng trăm phim X quang cùng với Graeme Jones (sau này là giáo sư ở Tasmania) theo lệnh của Thầy Sambrook. Phim nào có bất đồng ý kiến thì xin phép Thầy để đi đến quyết định. Thật ra, Philip rất thật tình, có những phim anh ấy nói tao không chắc mấy. Lúc đó, tôi thấy người thầy Úc sao mà rất chân thật, không bao giờ ngần ngại nói tao không biết! Kết quả của loạt phim X ray đó là ba bài báo trên JAMA và JBMR, với số trích dẫn trên 100. Tôi và Philip kí tên chung với nhau chắc cũng trên 30 bài báo về loãng xương và di truyền học. Bài sau cùng (2011) là bài về validation mô hình tiên lượng gãy xương do Nguyên và tôi phát triển. Bài này tôi biên soạn cũng khá nhiều, và có cả David Hosmer bên Boston tham gia. Có thể nói cái tên Philip Sambrook là một phần của sự nghiệp tôi, và tôi cũng là một phần sự nghiệp của anh ấy.

Sau này, Philip còn có thêm một học trò người Việt Nam, nhưng tôi chưa biết mặt.  Tôi chỉ biết rằng Philip rất ấn tượng với anh này, người mà anh nghĩ là rất tài giỏi.  Không biết có phải vì có hai học trò người Việt Nam (mà anh ta đánh giá là tốt) hay không mà anh rất có cảm tình với Việt Nam.  Chị VTTT ở Bạch Mai từng có dịp ghe qua Bệnh viện Royal North Shore và nhận xét rằng Philip là người lạnh lùng, nhưng tôi biết không phải lạnh lùng mà vì anh là người sống nội tâm nên ít khi bày tỏ tình cảm ra mặt. Anh chưa một lần ghé qua Viêt Nam, nên khi nghe tôi mời về giảng ở Việt Nam anh thích lắm.  Anh còn nói sẽ dẫn theo bà xã nữa, nhưng ước nguyện đó chưa thực hiện được thì anh đã ra người thiên cổ. 

Philip còn là bạn của tôi. Sau này, Philip quyết định rời Viện Garvan để “đầu quân” cho Đại học Sydney và được đề bạt chức danh giáo sư thực thụ, anh vẫn còn liên lạc thường xuyên với tôi. Sự ra đi của Philip lúc đó cũng gây ra vài ồn ào, vì anh có vài bất đồng với vài người trong Viện Garvan về chủ trương và định hướng nghiên cứu, nên anh quyết định ra đi. Thật ra, theo tôi anh đã quyết định đúng. Sau một vài năm “lênh đênh”, anh lập ra Viện nghiên cứu về xương (Institute of Bone and Joint Research) trực thuộc Bệnh viện Royal North Shore. Một thời gian khá dài Philip rất ít liên lạc với đồng nghiệp cũ ở Garvan, ngoại trừ tôi. Lúc nào gặp nhau trong hội nghị quốc gia và quốc tế, Philip đều kéo tôi ra chỗ riêng để nói chuyện về kỉ niệm Garvan. Có lúc anh ấy còn chiêu dụ tôi về Royal North Shore nữa. Ngay cả những lúc anh cãi với ai đó ở Garvan, anh đều điện thoại tôi để giãi bày tâm sự. Có lần Philip làm tôi cảm động khi anh nói tao chỉ có mày là bạn thân tao ở Garvan thôi. Đúng là như vậy, tôi cũng xem Philip là một bạn thân, một người bạn tốt và cao thượng.

Tôi nói Philip cao thượng là có nguyên do. Khoảng giữa thập niên 1990, tôi và Philip đi dự hội nghị loãng xương ở Mĩ (thu hút khoảng 5000 người). Trong hội nghị, tôi phát hiện định hướng mới trong nghiên cứu là loãng xương ở nam giới (osteoporosis in men). Khi về Sydney, tôi âm thầm làm một công trình về đề tài này. Không ngờ Philip cũng có ý định đó và bảo tôi nên viết một bài báo với dữ liệu đang có. Tôi nghĩ trước và làm trước, nên chỉ vài ngày sau tôi đưa cho anh xem bản thảo. Một tuần sau, anh trả lại bản thảo, đề nghị sửa vài chỗ và để tên anh ấy là tác giả đầu. Tôi phản đối kịch liệt, dứt khoát một ăn một thua, dứt khoát không chịu nhường nhịn. Thời đó tôi … hăng máu quá! Tôi phàn nàn đến cấp trên về chuyện đổi thứ tự tên tác giả, nhưng chẳng ai giải quyết, vì lúc đó Philip rất có oai và uy thế. Cãi với thầy thì khó yên ổn, ai cũng nghĩ vậy. Nhưng Philip là người cao thượng. Anh ấy mời tôi ra quán cà phê (lúc đó là quán vườn trên đường Victoria), anh mua cho tôi li cà phê, rồi từ tốn nói: sao mày làm lớn chuyện quá vậy, tao sẵn sàng cho mày đứng tên tác giả đầu, nhưng tao xin mày cho tao đứng tên tác giả liên lạc. Tôi nhớ chữ beg = xin. Thầy mà xin trò, chắc chỉ ở Úc mới có. Nghe xong giải thích của Philip, tôi muốn đổi ý cho anh ấy đứng tên đầu, nhưng anh nói: không, mày đứng tên đầu, vì công của mày. Một năm sau bài báo ra đời, và sau này trở thành một trong những công trình được trích dẫn nhiều nhất (trên 350 lần) trong thế giới loãng xương, và có thời là tài liệu tham khảo chính cho chẩn đoán loãng xương ở nam giới của NIH và WHO. Qua công trình đó, tôi còn được mời viết ít nhất là 3 book chapters, nhưng Philip không đứng tên tác giả. Sau này, khi có dịp nói chuyện, Philip hay mỉm cười nói mày hài lòng chưa? Nghe câu đó, tôi thấy sao cứ chạnh lòng, và nghĩ sao hồi đó mình bon chen thế. Nhưng tôi nghĩ sự việc đó cũng là bài học dạy tôi bình thản hơn trước những bon chen và danh lợi trong cuộc sống.

Một kỉ niệm khác với Philip là chuyện tiếng Anh. Như tôi nói, Philip chính là người hướng dẫn chính của tôi. Một trong những công lao mà tôi phải ghi nhận là anh dạy tôi tiếng Anh. Tôi từng có một người thầy trước đây, cũng rất khó về tiếng Anh, nhưng ông không có thì giờ dạy tôi (mà mắng thì nhiều). Philip thì ngược lại, anh có vợ là người Đông Âu, nên rất thông cảm với người di dân như tôi. Anh chỉ tôi cách viết tiếng Anh một cách gọn gàng (còn Gs Eisman dạy tôi cách viết tiếng Anh cho đẹp). Đối với Philip, không một chữ nào trong bài báo là thừa, và phải đi thẳng vào vấn đề. Đọc những bài của anh viết, văn thì không bay bướm, nhưng rất khoa học và đầy đủ, chính xác.   Đến khi tôi đã đủ khả năng viết tiếng Anh một cách độc lập, chính Philip nhờ tôi chỉnh sửa và góp ý bài báo cho anh. Có lần, anh đưa tôi một bản thảo và nhờ tôi xem xét và góp ý về nội dung. Tôi đọc xong bản thảo, và viết bên cạnh lề giấy những nội dung chưa đạt, và sửa luôn những câu tiếng Anh mà tôi nghĩ chưa “đẹp”. Anh cầm bản thảo hầm hầm đến office tôi, quăng bản thảo lên bàn, đứng chống nạnh nói: ai bảo mày sửa tiếng Anh của tao? Tao nhờ mày xem nội dung, chứ đâu nhờ mày sửa tiếng Anh! Tôi hơi bất ngờ trước phản ứng của anh ấy, nhưng một phút sau cũng đủ lấy lại bình tĩnh và thản nhiên nói: mày nhìn vào mắt tao này, nhìn vào tóc tao này. Á châu phải không? Một thằng Á châu phát âm tiếng Anh chưa chuẩn mà nó dám sửa tiếng Anh của mày thì chắc chắn tiếng Anh của mày có vấn đề. Anh ấy nghĩ gì đó một phút rồi nói: Ừ, có lí. Nhưng sao mày biết tao sai? Tôi mới giở bài học gerund ra mà giảng cho anh ta về cái sai trong cách dùng –ing. Anh nghe xong rồi gật gù nói: Hm, hay, có lí, mà mày học cái này ở đâu vậy? Tôi cười nói tao học từ lúc ở trại tị nạn. Thế là sau này tôi có dịp viết chung và chỉnh sửa khá nhiều bài báo cho học trò của anh ấy.

Philip Sambrook là một tên tuổi lớn trong thế giới loãng xương. Xuất thân từ chuyên khoa khớp (rheumatology) nhưng anh thích dính dáng vào lão khoa (geriatrics). Tốt nghiệp y khoa Sydney, anh đi làm bên Anh một thời gian và lấy bằng MD bên ấy, và năm 1988 về Sydney tham gia nhóm của Gs John Eisman (tôi tham gia nhóm vào năm 1990). Chính Philip là "đầu mối" để tôi qua Bệnh viện St Thomas (London) một thời gian làm về genetics với Tim Spector (sau này là giáo sư ở Oxford). Ít ai biết rằng Philip còn có bằng luật sư. Rất hiếm dân y học thêm luật, nhưng Philip là một trong những biệt lệ. Trong cuộc đời khoa bảng, tôi không biết chính xác anh là tác giả của bao nhiêu bài báo, nhưng chắc chắn phải hơn con số 200. Tôi nghĩ chắc chắn nhiều đồng nghiệp ở Việt Nam cũng từng trích dẫn những công trình của anh. Một số bài được công bố trên những tập san y khoa hàng đầu như New England Journal of Medicine, Lancet, JAMA, BMJ, v.v. Philip chính là người đầu tiên trên thế giới làm RCT so sánh hiệu quả của calcium, calcitriol và calcitonin ở bệnh nhân dùng corticosteroid. Công trình này được trích dẫn trên 460 lần, và được xem là một trong những công trình “kinh điển” trong thế giới loãng xương. Anh được mời viết xã luận cho New England Journal of Medicine, mời giảng trong các hội nghị quốc tế, kể cả Á châu. Ở Úc, anh được xếp hạng 3 trong chuyên ngành loãng xương. Trên thế giới, anh cũng thuộc vào hạng “cây đa trẻ”, từng giữ chức vụ quan trọng trong Hiệp hội loãng xương quốc tế, và cựu chủ tịch Hội loãng xương Úc châu. Philip còn là chủ tịch hội Osteoporosis Australia (OA), và trong cương vị này Philip thường mời tôi giảng trong các hội thảo của OA. Nay thì Philip đã ra người thiên cổ, không biết tôi có còn dịp quay lại OA.

Philip còn là một người làm việc rất có tổ chức. Tôi hiếm thấy một nhà khoa bảng nào có sức làm việc phi thường như Philip. Làm ngày làm đêm. Tôi hỏi bí quyết nào anh có thể quản lí bao nhiêu công việc, anh cười nói: get organized. Ngày nào anh cũng có một danh sách “things to do” (việc cần làm trong ngày). Tôi học theo thói quen này của anh, nhưng vẫn không có khả năng tập trung và tổ chức như anh. Tôi còn học từ Philip tính cẩn thận trong viết thư trả lời chuyên gia bình duyệt. Có lần tôi viết trả lời các chuyên gia bình duyệt của tập san BMJ, mà cứ mỗi lần đưa cho anh xem, anh sửa. Hết sửa chữ, sửa dấu, đến sửa margin và màu mực (thời đó liên lạc với tập san vẫn qua hard copy chứ chưa có email). Đến lần thứ 5, tôi bắt đầu … nổi nóng. Tôi nói: tao mất kiên nhẫn rồi, mày giỏi thì viết đi. Anh vừa mỉm cười vừa khuyên: ok, tao sẽ sửa lần cuối, mới có 5 lần mà nóng rồi! Nhưng cũng là lần cuối tao khuyên mày rằng phải tập tính perfectionism. Ngay cả viết con số, anh đòi hỏi phải chính xác theo đơn vị đo lường. Tôi vẫn nằm lòng lời khuyên của bậc đàn anh.

http://www.simonfieldhouse.com/wp-content/uploads/2011/12/Philip-Sambrook-Simon-Fieldhouse.jpg

Bức hoạ Philip Sambrook do hoạ sĩ Simon Field vẽ mà tôi nghĩ phản ảnh đúng nét của Philip (nguồn: http://www.simonfieldhouse.com) 

Sự ra đi của Philip làm tôi chẳng những sốc mà còn suy nghĩ nhiều hơn về cuộc đời. Thiền sư Vạn Hạnh từng viết Thân như điện ảnh hữu hoàn vô / Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô / Nhậm vận thịnh suy vô bố úy. Mới thấy đó thì đã biến mất ngay sau đó. Cuộc đời này sao mà ngắn thế! Philip sinh năm 1952, tức năm nay mới 60 tuổi, cái độ tuổi quá trẻ trong khoa học. Khi tôi viết những dòng chia buồn và gửi cho một đồng nghiệp ES ở Melbourne, anh trả lời “We are all visitors, what can I tell” (tất cả chúng ta là khách viếng thăm [cõi trần], tôi biết nói gì hơn). Đọc những dòng của ES tôi chợt nhớ những câu trong bài Ở trọ của Trịnh Công Sơn: Tôi nay ở trọ trần gian / 
Trăm năm về chốn xa xăm cuối trời. Nói như Trịnh Công Sơn, Philip là người ở trọ trần gian, đã vui chơi với cõi đời, đã để lại đời nhiều tác phẩm khoa học có giá trị, và nay thì anh thanh thản về chốn xa xăm cuối trời. Thôi thì tôi, một người trò-bạn-đồng nghiệp, mến chúc anh an vui miên viễn ở cõi vĩnh hằng.

NVT

===

Date: Sun 1 Apr 18:09:22 EST 2012

From: Brenda Sambrook

Subject: Philip Neil Sambrook 4/8/52 - 31/3/12

Dear All,

Philip passed away at peace yesterday afternoon here in our beautiful Kangaroo Valley retreat, with Andrew, Katie and myself beside him.

His initial diagnosis with ocular melanoma was four years ago and with the removal of his left eye we hoped that we had dealt the cancer a final blow. Philip didn't let this "minor disturbance" upset the way he lived - he continued to work, write papers, travel, attend meetings, care for his olive groves, drive his beloved tractor and live life fully enjoying the company of his family and friends. The cancer didn't return until March 2011 manifesting itself as secondary liver and bony metastases.  Despite trying many different forms of treatment and fighting even to the end, it finally proved too much. It is always difficult to lose someone like Philip when he still had so much promise ahead and when he fought for life with every fibre of his being.

With Easter almost upon us and surrounding public holidays, we are making funeral arrangements - most likely to be held Wednesday 11th April at Our Lady of the Sacred Heart, Avoca Street, Randwick.

To all our family and so, so many friends - thank you for being part of our lives - for your friendship, caring, prayers and good wishes.

Remember him positively and "Live a life of no regrets. Don't die wondering." Philip did.

 

love is the passion which endureth, 

which neither time nor absence cureth;

which nought of earthly change can sever:

love is the light which shines for ever.

what cold and selfish breasts deem madness

lives in its depths of joy and sadness;

in hearts, on lips, of flame it burneth —

one is its world, to one it turneth.

its chain of gold — what hand can break it?

its deathless hold — what force can shake it?

mere passion aught of earth may sever,

but souls that love, love on for ever.

 

Brenda, Andrew and Kate
Lần cập nhật cuối lúc Thứ ba, 03 Tháng 4 2012 06:32 Read : 3580 times
 
© Nguyễn Văn Tuấn | Powered by Joomla! | Designed by NDN | Hosted by Michael Hung
Lưu ý: Xem trang web tốt nhất bằng trình duyệt Firefox
Home Nhân vật - Sự kiện Nhân vật Để nhớ một người thầy: Philip N. Sambrook